VEZ chào đọc giả. Ngày hôm nay, chúng tôi xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu trong đời sống với nội dung Vua Thành Thái và những nỗi niềm của một vị vua yêu nước

28 thg 3, 2019 14:37 12047

Đừng Bỏ Lỡ
Cơ hội x100 lần tài khoản khi mua sớm MUFC Token 🎁 Giai đoạn Presale từ 3/11 – 2/12

Điểm: 5/5 (4 nhận xét)

Những ngày tháng 3 này là kỷ niệm 140 năm ngày sinh của vua Thành Thái (14/3/1879) và 65 năm ngày mất (20/3/1954). Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I trân trọng giới thiệu một số tư liệu quý trong Ấn bản triều Nguyễn về Vua Thành Thái, vị Hoàng đế thứ 10 của triều Nguyễn, một người yêu nước thương dân, có tư tưởng cách mạng nhưng sống trọng nghĩa khí. cuộc đời đầy những nỗi buồn.

Vua Thành Thái, hiệu là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con thứ 7 của vua Dục Đức, vị vua xui xẻo nhất trong các vua nhà Nguyễn, khi mới tại vị được 3 ngày thì bị phế truất và bị giết. Vua Thành Thái lên ngôi năm 10 tuổi trong một bối cảnh khá đặc biệt của triều Nguyễn. Ông lên ngôi ngày mồng 2 Tết Kỷ Sửu (1889) tại điện Thái Hòa không có “ngọc phả”.[1] và không có “từ điển”[2]. Tìm hiểu hoàn cảnh của cha ông và bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, vua Thành Thái tỏ ra khá thận trọng, già trước tuổi.

Hoàng_Thanh_Thai

Vua Thành Thái (Nguồn: Sưu tầm)

Khác với các vị vua truyền thống, vua Thành Thái là người cấp tiến, ông chủ trương “không bài ngoại” nên ngoài việc học chữ Nho, ông còn học thêm tiếng Pháp, khuyến khích con cháu và các nhà thần học học tiếng Pháp, đọc sách. Pháp, đặt mua “báo Tây” để đọc. Vua Thành Thái tích cực tìm tòi, nghiên cứu các trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến của phương Tây như vũ khí, tàu thủy… Ông thích cắt tóc ngắn, mặc vest, lái ô tô và thường hành động để tìm hiểu nhân sinh. Mọi người. Có lẽ vì gần dân nên ông thấu hiểu nỗi khổ của người dân trong ách nô lệ của chính quyền thực dân. Vì vậy, vua Thành Thái ngày càng thể hiện tinh thần dân tộc rất cao, khiến quân Pháp sợ hãi tìm mọi cách ngăn cản. Ông bị người Pháp và một số quan trong triều coi là “điên rồ” vì đã làm nhiều việc mà người đương thời cho là kỳ quái.

53673267_2027534900879920_4226252470713581568_nThư của Giám đốc L DailyÝ kiến ​​Sài Gòn gửi vua Thành Thái xin tiếp tục đăng báo với chi phí 12 đồng / năm, vua Thành Thái Châu chấp thuận: Giao cho Tiết độ sứ xem xét kinh phí (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I / Châu bản triều Nguyễn)

Để giúp cho việc học “chữ Tây” được quy củ, năm 1896 (tức Thành Thái năm thứ 8) vua Thành Thái ra lệnh cho Cơ mật viện xem xét vị trí của Quốc học trong Kinh thành để chuyên dạy chữ Pháp ở cơ sở. cùng thời gian. với các ký tự Trung Quốc. Ví dụ: Học mở rộng phải luôn đổi mới, dạy để chuyên sâu phải có lập trường. Nếu bạn học rộng, thì bạn sẽ đủ thông minh để thực hiện công việc; nếu dạy chuyên sâu thì nghiệp chướng sẽ thành công. Ở nước ta, từ Quốc Tử Giám ở Kinh đến các phủ, phủ, huyện, không nơi nào không có học. (Tuy nhiên) Nho học tốt, nhưng Tây học còn thiếu… Nay tiêu chuẩn cho phép mở một trường dạy tiếng Tây gọi là trường Quốc Học chuyên dạy chữ Pháp và chữ Hán. Tiêu chuẩn dành cho học sinh từ 15 đến 20 tuổi là con trai, con gái các quan thông hiểu chữ Nho, học sinh Quốc Tử Giám, học sinh các trường trong tỉnh tình nguyện theo học. Trên 20 tuổi nhưng các phẩm chất tốt đều theo học phí cho đến khi học[3].

Cũng trong năm này, theo lời khuyên của Cổ Mi Viện, được sự ủng hộ của Sứ thần Pháp, vua Thành Thái quyết định dựng một cây gậy sắt bắc qua sông Hương trong kinh thành Huế. Conclave đã thảo luận rằng: Sông Hương trước kinh thành là nơi giao thông chính thức, người qua lại nhiều, xây cầu sắt bắc qua sông rất thuận tiện. Bây giờ, theo các lập luận đã thảo luận, đó cũng là điều đúng đắn cần làm[4]. Vua Thành Thái ban chiếu chỉ dụ như sau: Đạo đức chính trị không quan trọng bằng việc ban ơn cho dân chúng. Gần đây, người ta thường xây cầu và đường để thuận tiện cho người dân. Bây giờ theo Cơ mật viện, tôi nghĩ nên xây một cây cầu sắt để qua lại, chỉ riêng công việc liên quan rất tốn kém, nên tính toán kỹ lưỡng.[5] Năm 1899, cây cầu hoàn thành mang tên vua là cầu Thành Thái, sau này được đổi tên nhiều lần và cuối cùng được gọi là cầu Trường Tiền. Đây là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hương và đã trở thành biểu tượng đẹp của thành phố Huế.

Dù là người hướng ngoại, thích văn hóa phương Tây nhưng vua Thành Thái cũng không quên chăm lo học hành, sách vở theo truyền thống. Năm Thành Thái thứ 7 (1895), Quốc Sư Quán biên khảo sưu tầm sử liệu từ đầu triều Minh Mệnh đến cuối niên hiệu Đồng Khánh để viết thành sách Liệt truyện. Dưới thời ông, bộ sách Thực Lục Chính Biên Đệ tứ Bản viết về Đức Tông Anh Hoàng đế tức vua Tự Đức đã hoàn thành việc biên soạn và in ấn. Vua Thành Thái cũng cho sửa chữa và mở rộng ấn Sở để chứa các ván in. Lịch triều Lục thực, Lịch các triều đại thánh của thơ ca. Ông cũng yêu cầu Quốc sử quán tổng kiểm kê tất cả các Châu bản từ thời Gia Long trở đi, đồng thời giao cho Bộ Hộ kiểm kê và lập danh bạ toàn bộ Địa bạ do Kho bạc lưu giữ.

Năm 1907, khi bị chính quyền thực dân phát hiện ông có tư tưởng chống Pháp khi cho rằng ông bí mật thành lập đội nữ binh trong cung và tự mình nghiên cứu chế tạo vũ khí, vua Thành Thái đã giả mất trí. Tuy nhiên, người Pháp đã nhân cơ hội đó để buộc ông phải thoái vị. Để hợp thức hóa, Tòa Khâm sứ cùng với Hội đồng Chính phụ thông báo cho quốc dân biết: Vua bị điên nên vì nước, chính quyền Pháp – Việt phế truất vua và lập vua mới.. Tháng 7 năm 1907 (tức Thành Thái năm 19), thoái vị đưa ra: Phục vụ vận mệnh của trời và sự thịnh vượng của đất nước, Hoàng đế đã ban hành sắc lệnh rằng: Vua là chủ của trời đất cùng với thần và dân, là điều đặc biệt quan trọng. Trần Đức Thìn đã lên ngôi được 19 năm, nhờ sự che chở của Đại Pháp và sự giúp đỡ của các bậc hiền triết, mới có được ngày hôm nay, đã tích tụ lo âu và mắc bệnh, khó có thể giữ được ngai vàng. Nước ta từ thời Trần, Lê cũng đã làm được điều này. Nay đã bàn với Toàn quyền chọn Thái tử Vĩnh San lên ngôi để tiếp tục việc thờ tự của đình làng, không dám có dã tâm riêng. Tôi rút lui về cung điện của mình để hồi phục sức khỏe. Còn việc pháp chế thì Đình thần Phủ Tôn Nhân ban trình Toàn quyền xem xét, trong và ngoài đều biết. Kính thay[6].

Sau khi tự “phê duyệt” trong thoái vị do các thượng thư soạn thảo, vua Thành Thái bị áp giải về Sài Gòn và sau đó bị quản thúc tại Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Năm 1916 ông bị đày sang đảo Reunion – Châu Phi cùng với con trai cũng bị Pháp phế truất là vua Duy Tân. Trong những năm lưu vong ở nước ngoài, cựu hoàng phải sống một cuộc sống khá vất vả và thanh đạm. Sau năm 1945, nhờ sự vận động của một số tổ chức, ông được về Việt Nam và sống cùng gia đình tại Vũng Tàu. Ngày 20 tháng 3 năm 1954, ông qua đời tại Sài Gòn, hưởng thọ 75 tuổi, kết thúc cuộc đời của một vị vua, một cựu hoàng với nhiều thăng trầm. Phần mộ của ông sau đó được đưa về an táng cùng vua cha là vua Dục Đức tại An Lăng, phường An Cựu, thành phố Huế.

Nguyễn Thu Hoài – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Tổng hợp bởi VEZ