Hello quý khách. , tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức qua bài chia sẽ Tổng chỉ huy quân đội miền nam ngày ấy

Tại kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện đang lưu giữ một hiện vật có số đăng ký 9722 / KL1156. Trong lý lịch khoa học của hiện vật có ghi “Đèn pin – Đồng chí Hoàng Đình Giong và đồng chí Tô Văn Đàn ở Pác Phiêng, xã Vinh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng sử dụng trong quá trình tuyên truyền, chỉ đạo phong trào cách mạng năm 1944”.

Đừng Bỏ Lỡ

Cách Đào TRX Coin kiếm 5% mỗi ngày

Đồng chí Hoàng Đình Giong (tức Hoàng Nam Bình, Văn Tự, Võ Văn Đức, Vũ Đức) sinh ngày 1 tháng 6 năm 1904 tại xã Hạ Hoàng (nay là xã Đề Thám), huyện Hòa An, Cao Bằng. Ông giác ngộ cách mạng năm 1924. Năm 1925 kết nghĩa anh em với đồng chí Hoàng Văn Thụ. Năm 1926, ông học trường Bách Nghệ, Hà Nội và được tiếp cận với tài liệu tuyên truyền của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (VNCMTN) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trong thời gian này, ông tích cực tham gia phong trào sinh viên bãi công ở Hà Nội, tổ chức lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Ông về Cao Bằng và vận động một số thanh niên, học sinh tỉnh Hòa An tham gia Hội Thanh niên yêu nước như: Hoàng Văn Nưng (tức Tự Hữu, Hoàng Như – Bí thư chi bộ đầu tiên của tỉnh Cao Bằng), Lê Đức NS (tức Nam Cao, Lê Mới) v.v…

Năm 1927, đồng chí Hoàng Đình Giong tham gia tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 12 năm 1929, các đồng chí Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nưng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và thành lập chi bộ Đảng ở Long Châu (Trung Quốc). Đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu làm Bí thư chi bộ và được phân công cùng đồng chí Hoàng Văn Thụ chỉ đạo phong trào cách mạng ở hai tỉnh Cao Bằng – Lạng Sơn. Ngày 1/4/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập, đồng chí vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối năm 1932, đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức đưa đồng chí Lê Hồng Phong (trước, học tập và công tác ở Liên Xô) trở về và thiết lập đường dây liên lạc với miền xuôi. Tháng 7 năm 1933, đồng chí cùng đồng chí Lê Hồng Phong khôi phục và xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Hải Phòng, Quảng Ninh. Tháng 3-1935, đồng chí dẫn đầu đoàn đại biểu Xứ ủy Bắc Kỳ đi dự Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương tại Ma Cao (Trung Quốc) và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

vovanduc

Đồng chí Võ Văn Đức (còn gọi là Hoàng Đình Giong) tại Mặt trận Nam Bộ năm 1945 (Ảnh Bộ Quốc phòng)

Cuối năm 1935, Người về nước tổ chức và chỉ đạo phong trào công nhân ở Hải Phòng, Quảng Ninh. Khi đang tìm cách bắt liên lạc với cơ sở, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Hải Phòng (tháng 2-1936). Anh bị kết án 5 năm tù, giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), nhà tù Sơn La. Sau đó, thực dân Pháp đày ông ra đảo Madagasca (Châu Phi). Trong thời gian này, anh cùng một số người khác được cơ quan tình báo Anh (IS) nhân danh quân Đồng minh tuyển mộ và đào tạo để phục vụ cho kế hoạch đưa gián điệp tới các thuộc địa của Anh và Pháp. bị quân Nhật chiếm đóng vào đầu Thế chiến thứ hai. Khi quân Anh, Pháp chiếm đảo, ông cùng các đồng chí là Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam – sau này là Thứ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng). , Lê Giản, Dương Công Hoạt về nước hoạt động cách mạng. Cuối năm 1942, ông trở lại Côn Minh (Vân Nam giới, Trung Quốc), qua Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) đến Cao Bằng. Gặp đồng chí Vũ Anh – Ủy viên Trung ương Đảng để báo cáo tình hình. Theo chỉ thị của Trung ương, đồng chí về Canquitta (Ấn Độ) công tác. Ngày 25-10-1944, ông cùng đồng chí Lê Giản (sau này là Giám đốc Nha Công an Trung ương từ năm 1946-1952) nhảy dù từ máy bay của quân đồng minh xuống thôn Ngàn, xã Vinh Quang, huyện Hòa An, Cao Bằng. Đồng chí Hồng Kỳ – cán bộ Việt Minh đã đưa đồng chí Hoàng Đình Giong về căn cứ địa cách mạng, sau đó được giao nhiệm vụ cùng cấp ủy chỉ đạo phong trào. Đồng chí đã chỉ huy Đội Tuyên truyền Giải phóng quân và cùng với các đồng chí Lê Quảng Ba, Bằng Giang làm nên chiến công trong trận giặc cướp tháng 6-1945, bắt sống toàn bộ bọn cướp (42 súng ngắn, 22 đại liên, 72 súng trường).

bo doi nam tien

Các chiến sĩ Nam tiến tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội) trước khi lên đường chi viện cho tiền tuyến miền Nam, ngày 1-10-1945 (Ảnh Quốc phòng)

Thực hiện Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc (23h00 ngày 13/8/1945), Tỉnh ủy Cao Bằng cử đồng chí Hoàng Đình Giong làm Trưởng ban khởi nghĩa, lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng với quần chúng nổi dậy. từ ngày 20 đến 22-8-1945 giành chính quyền cách mạng tỉnh Cao Bằng trước khi quân Đồng minh vào nước ta. Ngày 11 tháng 10 năm 1945, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng giao làm Tổng chỉ huy đoàn quân Nam tiến với tên mới do đồng chí đặt là Võ Văn Đức. Cuối tháng 10 năm 1945, đơn vị Nam tiến đầu tiên có mặt và tham gia chiến đấu bao vây quân Pháp ở Sài Gòn. Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định với các binh chủng Nam giới Cuộc tiến công đã kìm chân quân Pháp hơn một tháng trong thành phố, bước đầu phá vỡ kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của chúng.

doan quan nam tien

Quân đội Nam giới làm thủ tục tại ga Qui Nhơn (Bình Định) trước khi lên tàu Nam giới [1945(PhotofromNationalArchivesofVietnam)[1945(PhotofromNationalArchivesofVietnam)

Ngày 10/12/1945, đồng chí Võ Văn Đức (Hoàng Đình Giong) được cử làm Khu trưởng Khu IX (gồm 9 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng …). Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh Khu IX, các lực lượng vũ trang được tổ chức lại hợp lý. Với tầm nhìn chiến lược, Bộ trưởng Võ Văn Đức đã có những quyết sách sáng suốt, phù hợp để giải quyết những vấn đề lớn trên chiến trường. Đồng chí chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đồng bào Khmer gốc Việt về âm mưu chia rẽ của địch, để lực lượng vũ trang từng bước được tổ chức, chỉ huy, lãnh đạo. đơn vị ngày được củng cố và hoạt động có hiệu quả.

Với những đóng góp xuất sắc của Tư lệnh Vũ Đức (lúc này Võ Văn Đức gọi là Vũ Đức) những ngày đầu năm 1946 đã góp phần củng cố, chấn chỉnh quân đội, xử lý đúng chủ trương hợp lòng dân. các dân tộc anh em, xây dựng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Khmer. Cuối tháng 11-1946, Bộ trưởng Vũ Đức ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Khi đến tỉnh Ninh Thuận, anh nhận được quyết định của Trung ương Cục phân công anh ở lại làm Bộ trưởng Khu VI. Những ngày đầu năm 1947, mặc dù tình hình ở đây còn nhiều khó khăn nhưng với kinh nghiệm và bản lĩnh của người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, Bộ trưởng Vũ Đức Khu đã chỉ đạo các tỉnh trong Khu xây dựng cơ sở, củng cố các đoàn thể, tổ chức lực lượng dân quân, du kích, tự vệ. , phát triển Đảng viên, xây dựng chi bộ. Qua đó ổn định, tạo động lực cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng.

doantau

Tàu chở lính Nam giới Dừng chân tại ga Biên Hòa (Đồng Nai) tháng 10 năm 1945 (Ảnh Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Trong lúc phong trào cách mạng ở địa phương đang phát triển thuận lợi thì khoảng giữa năm 1947, Bộ trưởng Vũ Đức Khu khi đang làm việc ở Sở chỉ huy Khu thì bất ngờ bị địch tấn công, anh đã ra trận. đã chiến đấu chống trả quyết liệt và hy sinh khi tài năng đã chín muồi để cống hiến cho dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Đình Giong (tức Võ Văn Đức, Vũ Đức) đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá khi viết trong tác phẩm “Hoàng Đình Giong – Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng (1904-1947 ) “như sau:” Đồng chí Hoàng Đình Giong là người cộng sản kiên trung, người con tiêu biểu của đồng bào các dân tộc trên quê hương cách mạng Cao Bằng. Đồng chí đã chiến đấu dũng cảm, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản cao cả “. Nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam Nam giới (22/12/1944 – 22/12/2009), Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sỹ Hoàng Đình Giong.

tieudoan256

Tiểu đoàn 256 tập trung trước khi vào Nam giới Chiến đấu 10-1945 (Ảnh từ Bảo tàng Quốc phòng)

Hoàng Ngọc Chính (Tổng hợp)

Tổng hợp bởi VEZ