Hello quý khách. Ngày hôm nay, tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức với bài viết Thái sư A Vương Đào Cam Mộc – Sinh tướng thời Lý, tử vi thời Lê thần.

Theo sử sách, Đào Cam Mộc quê ở xã Định Tiến, huyện Yên Định (Thanh Hóa). Sau khi cha mất, anh được mẹ đưa về ngoại ở thôn Nam Thạch, xã Yên Trung. Ngay từ nhỏ, Cam Mộc đã tỏ ra thông minh và khỏe mạnh. Khi vua Lê Đại Hành về Thanh Hóa du ngoạn trên sông Mã (đoạn chảy qua Yên Trung, nay sông Mã đã đổi dòng) thì thuyền bị mắc cạn. Đào Cam Mộc đã dùng sức khỏe và thủ đoạn của mình để đưa con thuyền vượt qua bãi cạn. Từ đó, ông được vua Lê tin dùng, từng bước thăng làm Chí Hậu.

Đừng Bỏ Lỡ

Nhận miễn phí 3.000.000 SHIB. Cơ hội x100 lần tài khoản với SHIB

Người đầu tiên mở nước, vị thần

Trong số những người góp công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, Thái sư Vạn Hạnh và Thái sư Đào Cam Mộc được xếp vào hàng khai quốc công thần. Nếu như sư Vạn Hạnh là người lên ý tưởng, thì Thái sư Đào Cam Mộc là người tổ chức và trực tiếp chỉ huy cuộc đổi ngôi nhanh chóng, không đổ máu.

Nhà Tiền Lê, thời vua Long Đĩnh (1006-1009), bắt đầu suy tàn. Nhà vua làm việc rất hung dữ và tàn bạo. Trong nước dân chúng hô hào, bên ngoài giặc Tống rình rập. Lúc bấy giờ, uy tín của cận vệ Lý Công Uẩn ngày càng cao cả trong và ngoài triều đình. Nhà sư Vạn Hạnh từng nói với Lý Công Uẩn rằng: “Gần đây thấy sấm sét kỳ lạ, biết nhà Lý làm ăn phát đạt, chắc chắn sẽ tạo ra cơ đồ. Nay thấy người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng bọn họ Vệ gia là người khoan thai nhân từ, nhưng lại nắm binh quyền trong tay, đứng đầu thiên hạ, nếu không phải là vệ sĩ thì ai có thể chịu nổi? Đó là a ý tưởng táo bạo và hợp thời của sư Vạn Hạnh… Tuy nhiên, để thực hiện thành công ý tưởng đó và góp phần xây dựng vương triều Lý hưng thịnh, cần có sự hỗ trợ đắc lực của vị quan Thái hậu Đào Cam Mộc.

Tháng 7, ngày Tân Hợi, năm Kỷ Dậu (1009), vua Lê Ngọa Triều băng hà, thái tử còn nhỏ. Lý Công Uẩn và Hựu Điền nguyên soái sứ Nguyên Đế mỗi người đem 500 quan Tùy Long làm hộ vệ. Theo sách Đại Việt Sử ký toàn thư, Bấy giờ, khi hoàng đế Đào Cam Mộc đi vắng, đã nói với Lý Công Uẩn rằng: “Bấy giờ, chúa thượng ngu xuẩn, bạo ngược, làm nhiều điều bất nghĩa, nên trời không cho hưởng phúc đời, nhưng của ông. con còn nhỏ chưa sống được, không đảm đương được việc lớn khó, trăm việc phiền phức, thần không ưa, dân chúng nháo nhào đi tìm chúa tể thực sự. nghĩ cao, quyết đoán, nhìn xa Dấu xưa vua Thang, vua Vũ, khi gần thì nhìn việc nhà Đinh, Lê … trên thuận theo lòng trời, dưới thuận theo ý trời. đối với lòng người, ngươi còn giữ được tự giác một chút sao? “

Lý Công Uẩn sợ Đào Cam Mộc có kế khác nên dọa bắt về làm quan. Đào Cam Mộc không chút sợ hãi nói tiếp: “Ta xem giữa Thần và người có chuyện như vậy, mới dám lên tiếng. Hiện tại ngươi muốn tố cáo ta, ta cũng xin nói không sợ chết!” . Lý Công Uẩn nói: “Ta không nỡ lòng tố cáo hắn, chẳng qua là sợ lời hắn bại lộ và chúng ta đều phải chết, nên thôi.

Sử sách ghi lại việc này: “Ngày ấy, Đào Cam Mộc tâu với triều đình rằng nay lòng dân khác nhau, trên dưới, dân chúng đều chán ghét hoàng đế chuyên chế, độc tài, không muốn nối ngôi vua. , nhưng tất cả đều có lòng kính trọng đối với vệ sĩ, ta không nhân lúc này lập vệ sĩ làm con trời, nếu có tai họa thì có giữ được đầu không? Mọi người vui vẻ vâng lời, dẫn Lý Công Uẩn vào cung. , lên ngôi Hoàng đế, trăm quan đều quỳ trong sân, hoan hô vạn tuế ”.

Theo ghi chép lịch sử như vậy: Việc kế vị diễn ra nhanh chóng. Vai trò của Đào Cam Mộc quan trọng như vậy. Chắc chắn ông ta đã ngầm điều động cận thần. Trên thực tế, trong triều chắc chắn có các hoàng thân quốc thích nhà Lê và các cận thần sủng ái Ngọa Triều. Tuy nhiên, cuộc đảo chính diễn ra êm đẹp, “vui vẻ” mà không có phản ứng gì, thể hiện sự sắp xếp, bố trí quân tài tình của Đào Cam Mộc. Sự kiện này đã mở ra vương triều Lý kéo dài 216 năm (1009-1225).

Đào Cam Mộc, một công thần nhà Lý, hết lòng chăm lo việc dân, việc nước.

Ngoài công lớn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, Đào Cam Mộc còn có công giúp Lý Công Uẩn xây dựng cơ đồ của nhà Lý thuở sơ khai. Vì vậy, ông được Lý Thái Tổ phong tước Nghĩa Tín Hầu tước hầu, sau thăng Thái sư và gả công chúa đầu lòng là An Quốc công. Khi chính quyền tạm ổn, vào tháng 2 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010), vua cùng phụ chính là Đào Cam Lộc đi thăm các tỉnh ngoài, tìm đóng đô. Và việc Lý Thái Tổ quyết định dời đô về Thăng Long cũng một phần đóng góp ý tưởng và công sức của Đào Cam Mộc.

1

Thái sư Vương Đạo Cam Mộc. (Nguồn Internet)

Theo hai thư mục Tướng quân Đào Cam Mộc và công chúa Thiêm Hoa – An Quốc tại huyện Vụ Bị, xã Vụ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam và làng Khai tự chùa Đông Hải – chùa Thiên Đô, Ngày nay là đền Vẽ thuộc xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, cho chúng ta biết thêm một số thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của vị danh thần bậc nhất thời Lý.

Ngoc Pha Phu Vu Be của Tiến sĩ Phạm Trang người Dũng Nhuệ, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, soạn ngày 2 tháng 2 năm Cảnh Thống thứ 5 (Nhâm Tuất 1502). Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) chép Tam giáp Ngô Thế Vinh quê ở Bái Dương huyện Nam Trực (Nam Định). Gia phả ghi lại, mùa xuân năm 1010, Lý Thái Tổ về quê Kinh Bắc thăm tổ tiên. Trên đường trở về Hoa Lư, Lý Thái Tổ ghé thăm đất Hương Ngự, huyện Thượng Hiền (nay là thôn Vụ Bị, xã Vụ Bản). ), chuyến du lịch với sự hỗ trợ của Đào Cam Mộc Hầu, coi như chuyến khảo sát cuối cùng cho việc dời đô.

Bản “Thần phả chùa Đông Hải cổ tự” do Minh Tuệ trụ trì chùa sao chép vào năm Canh Tý (1840), cũng theo Ngọc phả triều Lê do thần quản Nguyễn Bính biên soạn. niên hiệu Hồng Phúc (1557), chép rằng: Chùa Có từ thời Đinh – Tiền Lê, gần biển nên gọi là chùa Đông Hải. Khi còn trẻ, Đào Cam Mộc từng học, giỏi võ, thông công với tổ tiên khi được cử đi tìm Minh Quân, sau đó ông vào Hoa Lư làm quan cho nhà Tiền Lê và nhà Lý. . Tháng 6 năm 1010, Lý Thái Tổ phong Đào Cam Mộc làm Thiên đô tướng quân tiên phong chỉ huy việc dời đô, tại đây triều đình tổ chức lễ tế trời, xuất quân nên đổi tên là Thiên. Do chùa.

Tương truyền, khi được vua Lý Thái Tổ giao trách nhiệm dời đô, Đào Cam Mộc đã chuẩn bị hai đội thuyền gồm 300 chiếc, một chiếc đi đường biển qua đất thành Đại La; Một khúc quanh sông Nhị cũng ngược lên thành Đại La. Khi thuyền đến thành tâm, thấy hai con rồng vàng hiện ra nghênh đón, vua mới cho gọi là thành Thăng Long.

Thấy vùng đất Vũ Bị đẹp quá, dân làng thuần hậu, vua xin vua cho nhận đất để đưa công chúa về sinh sống. Tại đây, vợ chồng ông khuyên răn con người cư xử với nhau, tương trợ nhau tu dưỡng, xây dựng thuần phong mỹ tục. Công chúa An Quốc tự xuất tiền để mở mang bờ cõi, xin vua cha cho dựng bia tổ nghiệp. Đến nay, dinh Vũ Bị vẫn còn lưu giữ hai phiến đá cổ, giới chuyên môn gọi là Thạch Kiệt, hiểu chung là một địa danh vùng đất “Linh thiêng”. Tứ ”vua ban cho người có công. Thạch Kiệt dựng năm Hồng Thuận thứ 5, ngày 25 tháng 2 năm 1513, ghi trên 140 mẫu ruộng trong vùng, xa nhất là Đông Ba, thuộc xã Đồn Xá, Bình Huyện Lục Khu di tích thờ vợ chồng Đào Cam Mộc có đền thờ nguy nga, được các vua nhà Nguyễn sắc phong 10 đạo sắc phong, được các nhà khoa bảng khen ngợi, hàng năm dân làng thường xuyên tổ chức lễ hội.

Sớm khôi phục lại các đền thờ Đào Cam Mộc

Sau 6 năm phò tá Lý Thái Tổ ổn định triều chính, Thái sư Đào Cam Mộc qua đời tại tư dinh nay thuộc đất Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội) vào năm Thuận Thiên thứ 6 (1015). Để ghi nhớ công lao của vị vua dựng nước, Lý Thái Tổ đã truy tặng ngôi vị cao nhất cho ông là A Vương, xây dựng đền thờ Thái sư A Vương Đào Cam Mộc ngay tại tư dinh và ban tặng câu đối: “Lý Đế Định. Vương Tử Phúc / Đào thân phận làm quan Quốc Anh ”.

Cùng với việc lập chùa tại tư thất trên đất Cổ Loa, Thái sư A Vương Đào Cam Mộc còn lập chùa ở nhiều nơi. Ông là một trong ba vị quan (Đào Cam Mộc, Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu) được thờ ở Võ Chỉ đền thờ Lý Bát Đế (Đền Đô, xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh).

2

Nhà Võ Chí ở Đền Đô, nơi thờ Đào Cam Mộc, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt. (Nguồn Internet)

Tại quê nhà, huyện Yên Định (Thanh Hóa), ​​ông được thờ ở ba nơi: chùa Hưng Phúc (xã Định Tiến, quê ngoại), làng Nam Thạch (xã Yên Trung, nơi có đền chính) và làng Nghè. Bùi Hạ (xã Yên Phụ). Các triều đại sau này đều đánh giá cao công lao của Đào Cam Mộc đối với đất nước và phong ông là Thượng đẳng thần, Hắc thần, Phúc thần. Điều này được ghi lại trong một số sắc phong còn lại được lưu giữ ở xã Yên Trung, huyện Yên Định, Thanh Hóa ngày nay.

Tuy nhiên, cả ba nơi thờ tự này đều đã bị chiến tranh tàn phá hoặc đổ nát cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhưng dù vậy, câu nói ở làng Nam Thạch: “Sinh Lý tướng quân, tử vi Lê thần” (Sinh làm tướng nhà Lý, chết làm công thần nhà Lê) vẫn được lưu truyền trong dân gian. Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học đã kiến ​​nghị, đề xuất sớm trùng tu đền thờ Thái sư A Vương Đào Cam Mộc để giúp thế hệ mai sau hiểu rõ hơn và ghi nhớ công ơn của Thái sư A Vương. Đào Cam Mộc tài năng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Lan Phương (sợi tổng hợp)

Nguồn:

– Vũ Thanh Sơn, Các vị thần thời Lý, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2011.

– Các vị thần vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, NXB Lao động, 07/2013.

– Đại Việt Sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1972.

Tổng hợp bởi VEZ