Xin chào đọc giả. Ngày hôm nay, VEZ mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức với bài chia sẽ Những mỹ nhân tài sắc vẹn toàn trong cung đình Việt Nam (2)

Trong xã hội phong kiến ​​trọng nam khinh nữ, hiếm có phụ nữ nào thành đạt trong học hành và được triều đình trọng vọng.

Đừng Bỏ Lỡ

Cách Đào TRX Coin kiếm 5% mỗi ngày

Nguyễn Thị Lộ, người phụ nữ đầu tiên được phong Học sĩ

Nguyễn Thị Lộ (1400-1442) quê làng Hải Hồ, làng dệt chiếu nổi tiếng, ngày nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nhờ thông minh, lại được cha cho học hành đầy đủ, Thị Lộ đã thông hiểu kinh sách từ rất sớm và rất giỏi văn thơ. Không chỉ vậy, cô còn nổi tiếng với nhan sắc xinh đẹp.

Tuy nhiên, cuộc sống của Thị Lộ không mấy yên bình. Sau khi bố mất, chị phải đi bán chiếu kiếm sống và cùng mẹ tần tảo nuôi các em. Trong một lần ra kinh đô bán chiếu, nàng gặp Nguyễn Trãi, người sau này trở thành người bạn đời của nàng.

Mãn lòng với ách thống trị của nhà Minh, Thị Lộ đã theo Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Tại đây, Nguyễn Trãi là thủ lĩnh quan trọng của nghĩa quân và Thị Lộ là trợ thủ đắc lực cho ông trong mọi công việc.

Từ khi còn ở Lam Sơn, Thị Lộ đã là cô giáo dạy dỗ các con của thủ lĩnh và quân khởi nghĩa. Sau khi cuộc khởi nghĩa thành công và Lê Lợi lên ngôi vua, bà được truy phong vào cung và phong làm Lễ bộ. Bà là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ này trong lịch sử Việt Nam.

Với cương vị là Lễ nghi học sĩ, bà đã soạn thảo và sửa chữa nhiều phong tục từ trong cung ra ngoài triều đình, đồng thời xin vua cho mở mang quốc giáo để khuyến khích phụ nữ học chữ thánh hiền.

Không chỉ là một nhà giáo, Nguyễn Thị Lộ còn là một nhà thơ kiệt xuất. Rất tiếc, phần lớn thơ của bà đã bị thất lạc, chỉ còn lại một số bài thơ khi gặp Nguyễn Trãi. Tuy nhiên, tên tuổi của bà đã gắn liền với nền văn học nước nhà từ thời đó.

Về cuối đời, một bi kịch thương tâm xảy đến với Thị Lộ. Bà là tội phạm chủ chốt trong vụ án Lệ Chi Viên nổi tiếng của triều đình Hậu Lê, với cái chết bí ẩn của vua Lê Thái Tông. Vụ án đó đã gây ra cái chết thương tâm của bà cùng với Nguyễn Trãi và ba thế hệ trong gia đình ông.

Kienthuc My nhan Viet2

Nguyễn Thị Duệ giả trai thi đậu tiến sĩ.

Nguyễn Thị Duệ (cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17) quê ở tổng Kiệt Đạt, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay. Vừa thông minh vừa xinh đẹp, khi mới hơn 10 tuổi, nàng đã được rất nhiều quý tộc đến hỏi cưới nhưng gia đình nàng không ai chấp nhận.

Năm 1592, chúa Trịnh đánh chiếm Thăng Long, buộc nhà Mạc phải bỏ chạy lên Cao Bằng. Nguyễn Thị Duệ và gia đình cũng theo họ Mạc.

Dù phải dạt vào núi rừng nhưng nhà Mạc vẫn tổ chức các kỳ thi tiến sĩ. Nguyễn Thị Duệ rất chăm học và cũng muốn đi thi nhưng luật lệ thời phong kiến ​​không cho phép phụ nữ đi thi. Vì vậy, cô phải cải trang thành nam giới để trở thành một quân nhân.

Vào kỳ thi tiến sĩ năm 1594, Nguyễn Thị Duệ hóa trang thành nam và lấy tên giả là Nguyễn Du đi thi. Kết quả là cô ấy đã đỗ đầu khi mới ngoài đôi mươi. Khi mở tiệc chiêu đãi tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị bác sĩ trẻ có gương mặt lạ nên đã dò hỏi, khiến chuyện giả của Nguyễn Thị Duệ bị bại lộ. Tuy nhiên, cô không bị trừng phạt và thậm chí còn được nhà vua khen ngợi. Sau sự việc này, vua Mạc đã mời nàng vào cung để dạy dỗ các phi tần của mình, rồi tuyển nàng làm thiếp.

Năm 1625, quân Lê – Trịnh tiến lên Cao Bằng đánh đuổi nhà Mạc. Nguyễn Thị Duệ cùng tàn quân nhà Mạc vào rừng ẩn náu, bị giặc bắt. Số phận lại một lần nữa mỉm cười với Thị Duệ khi vua Lê và chúa Trịnh coi trọng việc học hành của bà và để bà về dạy học trong hoàng cung.

Khi làm quan cho triều đình, Thị Duệ rất quan tâm đến việc thi cử và đào tạo nhân tài. Trong hầu hết các kỳ thi, cuộc thi, kỳ thi của gia đình đều được bà chấm điểm. Bà thường cùng các bậc Nho sĩ dạy dỗ, ôn luyện cho các bậc tử sĩ. Bà cũng xin triều đình ban cho ruộng tốt, cày cấy hoa màu để giúp đỡ những người nghèo khổ học hành chăm chỉ.

70 tuổi, bà Nguyễn Thị Duệ xin về quê an dưỡng. Cô được hưởng nhiều đặc quyền, nhưng chỉ dùng một ít để tiêu xài, phần còn lại dành cho công ích và giúp đỡ người nghèo. Bà mất khi mới hơn 80 tuổi, được nhân dân địa phương lập đền thờ, thờ phụng như phù hộ độ trì.

Ngoài học vấn, Nguyễn Thị Duệ còn được biết đến với tài thơ phú. Tuy nhiên, các tác phẩm của bà ngày nay hầu hết đã bị thất lạc.

Bà Huyện Thanh Quan khiến vua Tự Đức phục

Bà Huyện Thanh Quan (1805? -1848?) Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở làng Nghi Tàm, Hà Nội ngày nay. Bà là vợ ông Lưu Nghị (1804-1847), đỗ cử nhân năm 1821, là tri phủ Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình) nên dân gian thường gọi bà là “Bà.

Cô vốn thông minh, đặc biệt say mê văn chương và coi đây là thú tiêu khiển tao nhã nhất. Nhờ có tài văn chương, năm 1839, bà Huyện Thanh Quan được vua Tự Đức mời vào cung và phong làm Cung Trung Giáo dạy nhân tướng học. Trong thời gian ở Huế, bà đã giao lưu rộng rãi và để lại ấn tượng sâu sắc cho nhiều học giả.

Vua Tự Đức vốn yêu thích văn chương, mến mộ Bà Huyện Thanh Quan nên thường làm thơ cho bà vẽ. Nàng thường rất có tài vẽ tranh nên càng được vua kính trọng.

Theo giai thoại, vua Tự Đức sai bà đặt thơ vào chiếc cốc cổ có vẽ sơn thủy. Cô ngẫu hứng với hai câu: “In như thảo mộc phương Nam / Mang cả đất Bắc”.

Về mặt ý nghĩa thì: Loại trà để pha là loại trà quý của Đại Việt, phải dùng loại chén sứ quý nổi tiếng của Trung Quốc (có hình sông núi) mới xứng.

Sau khi chồng mất năm 1947, bà Thanh Quan xin phép về quê nghỉ hưu, đưa các con từ Huế về quê ở làng Nghi Tàm sinh sống.

Các tác phẩm chữ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan ngày nay chỉ còn lưu lại những bài thơ khải huyền như Hoài cổ Thăng Long, Đền Trấn Bắc, Đền Trấn Võ, Qua Đèo Ngang, Cảnh mùa thu, Nhớ nhà, Cảnh buổi tối… Những bài thơ của bà đều thể hiện tình yêu với cảnh vật thiên nhiên và tâm trạng buồn bã của bà trước những đổi thay của thế giới.

Hoàng phương

Tổng hợp bởi VEZ