Hello quý khách. Bữa nay, mình sẽ đưa ra đánh giá khách quan về các tips, tricks hữu ích phải biết qua nội dung Nhà sử học, nhà báo Trần Huy Liệu (1901-1969) (Phần 2 và phần cuối)

* Người khởi xướng Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa; Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời vào Huế nhận ấn kiếm của vua Bảo Đại.

Đừng Bỏ Lỡ

Nhận miễn phí 3.000.000 SHIB. Cơ hội x100 lần tài khoản với SHIB

Nhắc đến Trần Huy Liệu, ai cũng nhớ đến ông là người đã bàn Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa. Trong Hồi ký của mình, ông đã viết lại khoảnh khắc lịch sử này: “Đêm 13 tháng 8, trong căn nhà tranh, tôi được đồng chí Văn ủy quyền soạn thảo Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa. Dù ngồi dưới ánh đèn mờ ảo; những cây tầm ma chích chòe, những con bướm đêm bay tứ tung, những con muỗi và yêu tinh cắn xé nhau khiến tôi phải nhảy dựng lên hoặc giậm chân, tôi vẫn say sưa nghĩ về cảnh mất nước, nỗi nhục của nhân dân hơn tám mươi năm qua, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng mấy thế kỷ qua; các cuộc nổi dậy của Văn Thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tôi vui khi làm công việc báo ngày xuất quân lúc nửa đêm… “Quân lệnh số 1 lúc đó tôi soạn thảo, đọc đi đọc lại vẫn không sửa được một chữ nào. Viết xong, tôi đưa cho anh Văn… Thế là cuộc tổng khởi nghĩa được phát động, Ủy ban khởi nghĩa chỉ còn chờ được chính thức hóa tại Quốc dân đại hội.3). Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội khai mạc tại Tân Trào. Ủy ban Dân tộc Giải phóng (UBDTGP) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Trần Huy Liệu được bầu làm Phó Chủ tịch.

4

Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc, ngày 13 tháng 8 năm 1945

5

Thành viên Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,

Tháng 8 năm 1945

Khi các thành viên của MTDTGPMNVN trở về Hà Nội, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra vào ngày 19 tháng 8 và giành được thắng lợi hoàn toàn. Ban Thường vụ Đảng Cộng sản Việt Nam chuyển ngay thành Chính phủ Cách mạng lâm thời. Sau đó, theo sự chỉ định của Trung ương Đảng, một phái đoàn vào Huế nhận sắc lệnh thoái vị của vua Bảo Đại được thành lập, gồm: Ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Tuyên truyền thay mặt Chính phủ. Với cương vị Trưởng đoàn tạm thời, đồng chí Nguyễn Lương Bằng thay mặt Mặt trận Việt Minh, đồng chí Cù Huy Cận Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp làm ủy viên. Ngày 25/8, đoàn rời Hà Nội, vào Huế. Chiều ngày 30/8/1945, lễ thoái vị và trao ấn kiếm của vua Bảo Đại được tổ chức tại Ngọ Môn. Sau đó ông đã viết rất rõ ràng và khách quan về buổi lễ này với tiêu đề: Tước ấn kiếm của vua Bảo Đại, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 18 (ngày 9-1-1960): “Ngày 30/8, đúng giờ đã định, 50.000 người dân thành phố Huế đã tập trung trước cổng Ngọ Môn… Bảo Đại đầu đội khăn vàng, mặc hoàng bào đứng ở cửa. Đoàn người bước lên Ngọ Môn, người dân cổ vũ nhiệt tình. Đến lượt Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Đọc xong, Bảo Đại đưa tay nâng thanh trường kiếm nạm ngọc rồi ấn hình vuông. Tôi thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận hai hiện vật đại diện cho chế độ… Sau khi nhận ấn kiếm, tôi thay mặt Chính phủ đọc diễn văn tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủ ngàn đời. để lại và chấm dứt ngôi vua cuối cùng của nhà Nguyễn ”(4).

6

Sắc lệnh thoái vị của Bảo Đại, tháng 8 năm 1945

* Vững vàng, dũng cảm trên con đường khoa học

Kể từ khi tôi đọc di chúc cải cách ruộng đất của ông, tôi rất ngưỡng mộ ông và thường nghĩ đến màu đỏ của bông hoa lài hồng. Những ghi chép từ chuyến đi thực tế Thái Nguyên khi ông còn là Trưởng khoa Văn – Sử – Địa, tầm nhìn trung thực, khách quan của một nhà nghiên cứu lịch sử, lòng dũng cảm của cây bách xù – tất cả đã được ghi lại. đã thúc giục, thôi thúc ông viết những lời tâm huyết gửi đến Ban Cải cách ruộng đất đầu năm 1954, bày tỏ quan điểm rằng: khác với Trung Quốc, ở Việt Nam đại đa số là địa chủ trung nông, một số địa chủ và bà con đều có tinh thần yêu nước, số của bọn đại địa chủ làm tay sai cho đế quốc chưa cao nên Đảng có sách lược chia rẽ triệt để, tránh vu cáo tràn lan. Sau đó anh ấy viết bài báo “Xem lại hồ sơ của giai cấp địa chủ phong kiến”Với bút danh Hải Khách, nhưng đến tháng 2 năm 1957, bài báo mới được đăng trên Tạp chí Văn – Sử – Địa (5). Những kiến ​​giải khoa học về đặc điểm của địa chủ phong kiến ​​ở một số nước thuộc địa đã không được chấp nhận ngay lập tức. Anh kiên định giữ vững lập trường cách mạng, tinh thần trách nhiệm và tâm sự với đồng nghiệp trẻ:Là người cách mạng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc, theo em, Đảng đã làm sai điều gì?“. Biết mình bị cấp trên gọi” sửa sai “nhận thức về” giai cấp mơ hồ “nhưng anh vẫn như người lữ hành không mệt mỏi đến đích của chân lý. Cái” phải nói là kiêng “của chính anh. tấm lòng nhân hậu, nhân ái đã mang lại ánh sáng cuộc sống bình yên cho một số người dân oan sai trong cải cách ruộng đất mà cho đến ngày nay, mọi người vẫn nhắc đến ông với tất cả sự kính trọng.

Trong những tháng ngày chất chứa biết bao cảm xúc, anh đã đem hết tâm huyết và sự vẹn toàn vào lịch sử sự nghiệp của mình. Sớm về làm báo ở Sài Gòn và tiếp tục sự nghiệp làm báo từ những năm 20 đến 30 với các tờ báo Báo Dongfa Times (1925 – 1926), Tuần báo Hòn Cau (1931 – 1934), Tiếng sóng vỗ (1931 – 1934), trở thành một nhà báo lành nghề với tờ báo Tin tức (1938), Cuộc sống này (1938 – 1939), Tiếng suối (1941 – 1945) do ông chủ biên, ông cũng là người nổi tiếng trong lịch sử, sự nghiệp do chính ông lựa chọn từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc, năm ông 50 tuổi – cái tuổi tam, chín với quyết định cuộc sống. Cũng không có gì mới, vì khi bị giam ở Hòn Cau, ông đã có ý thức thu thập tư liệu để viết về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên. Năm 1935, “Sơ thảo khởi nghĩa Thái Nguyên”Do một nhà in tư nhân (Bảo Ngọc) phát hành. Sách “Lược sử Việt Nam cận đại“, ông viết xong ở Việt Bắc vào khoảng năm 1950. Thế là cơ duyên đã gắn ông với sự nghiệp làm sử. Riêng tôi, thế hệ hậu sinh may mắn được là sinh viên Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp ngay sau nước. đoàn tụ và đọc tác phẩm “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp”(Quyển 1 và 2 gồm quyển hạ và quyển thượng); Tài liệu tham khảo về lịch sử cách mạng hiện đại Việt Nam, 12 tập (Viết chung với các ông Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Nhà xuất bản Văn – Sử – Địa xuất bản trong ba năm 1956 – 1957 – 1958); “Lịch sử Thủ đô Hà Nội”Được xuất bản bởi chủ sở hữu năm 1960; rồi những công trình nghiên cứu về Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục … Văn phong triết lý, trong sáng, tinh tế, giàu dữ liệu lịch sử và đầy sức cuốn hút, tác phẩm của ông đã thuyết phục tôi, lấy tôi đến những chân trời mới của lịch sử. Cội nguồn của tinh thần yêu nước và dân tộc không bao giờ cạn trong trái tim Người đã tự do tuôn chảy trong những trang sử. Cho đến ngày nay, những luận điểm cơ bản trong các công trình nghiên cứu của ông vẫn đúng đắn và được hậu thế tiếp tục bổ sung trong quá trình phát triển của lịch sử nước nhà. Nhiều tác phẩm của nhà sử học Trần Huy Liệu, người có đóng góp xuất sắc cho lịch sử nước nhà, trong đó “80 năm lịch sử chống Pháp”Đã mang lại vinh quang cho ông: Tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa trong các trường đại học và sau đó ông được tặng thưởng Huân chương Hum-Bon; Văn bằng Truyền thông của Học viện Khoa học Cộng hòa Dân chủ Đức. Giáo sư Văn Tạo, người cộng tác đắc lực của ông lúc bấy giờ vẫn nhớ như in: “Linh hồn của cuốn sách này là cuốn Sơ lược lịch sử cận đại Việt Nam dày 500 trang in trên giấy rơm trên Việt Bắc (loại giấy rất xấu, không phải như loại giấy đó).) (6). Nhưng những tháng ngày vui vẻ hạnh phúc ấy thật ngắn ngủi. Làm việc cho Bộ Thông tin “Lịch sử việt nam”(2 tập) anh đã bỏ nhiều công sức, trí tuệ vào đề cương, viết bản thảo cùng các đồng nghiệp như GS Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Thành, anh Văn Tấn, anh Nguyễn Công Bình… nhưng sau Hội đồng. duyệt bản thảo, vị trí chủ biên được giao cho người khác, bản thảo bị xếp xó. Đó là một “sét đánh ngang tai” đối với anh và nhóm tác giả. Cuộc chiến tranh ác liệt của đế quốc Mỹ gần như cuốn tất cả ra sông lớn – bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc. Ông gác lại nỗi đau, lao mình vào công việc, phụng sự cách mạng và nhân dân, bởi ông còn là chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; nhưng đối diện với chính mình, trái tim dũng cảm và nhân hậu của anh dường như đã quá mệt mỏi với bao lo toan chồng chất bấy lâu nay. Và nó đột ngột ngừng đập vào ngày 28/7/1969, chỉ một ngày sau khi cả nước làm lễ thương binh liệt sĩ, gia đình ông cũng như mọi gia đình Việt Nam thời bấy giờ có con em chiến đấu trên các chiến trường. miền Nam khốc liệt. Khi đó, ông mới 69 tuổi.

Người ta gọi ông là Viện sĩ, nhà sử học, nhà báo Trần Huy Liệu, cán bộ cách mạng Trần Huy Liệu. Ở lĩnh vực nào ông cũng để lại dấu ấn đậm nét về tài năng và nhân cách của một con người chân chính – một lòng một dạ vì dân tộc. Di sản đồ sộ mà ông để lại trên các lĩnh vực lịch sử-báo chí đã góp phần quan trọng vào lịch sử và nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Ths. Phạm Kim Thanh

Ghi chú:

(3), (4): Hồi ức của Trần Huy Liệu, NXB Khoa học xã hội, H. 1991, tr 354; 369-370.

(5): Ban Sử – Địa – Văn ra đời ngày 2 tháng 12 năm 1953. Tháng 6 năm 1954, Ban xuất bản Tạp chí Sử – Địa – Văn, gọi tắt là Tạp chí Sử – Địa – Văn. Tháng 8 năm 1954, Tạp chí Lịch sử – Địa lý – Văn học số 2 được xuất bản. Số ra ngày 3 tháng 10 năm 1954 đổi tên là Tạp chí Nghiên cứu Văn – Sử – Địa, là cơ quan ngôn luận của Ban Nghiên cứu Văn – Sử – Địa. Từ số 1 (6-1954) đến số 48 (1-1959) – số cuối cùng, tạp chí đã đăng 446 bài báo, trong đó có 332 luận án nghiên cứu và 114 bài thông tin khoa học.

(6): Năm 1996, tác phẩm Lịch sử tám mươi năm chống Pháp được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh lần thứ nhất.

Tổng hợp bởi VEZ