Hi quý vị. , tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức với bài chia sẽ Nguyễn An Ninh – nhà văn hóa lớn, thủ lĩnh của phong trào yêu nước Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Thân phụ là Nguyễn An Khương, một trí thức nho học yêu nước, tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Từ nhỏ, Nguyễn An Ninh đã được cha dạy yêu nước và kèm cặp về Hán văn. Sau đó, ông học trung học tại các trường Pháp – Việt ở Nam Kỳ.

Đừng Bỏ Lỡ

Cách Đào TRX Coin kiếm 5% mỗi ngày

Năm 16 tuổi, gia đình cho anh ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược. Học được nửa năm, Nguyễn An Ninh quyết định chuyển sang học ngành Luật tại Trường Cao đẳng Pháp chính thuộc Đại học Đông Dương. Năm 1918, ông đến Paris (Pháp) và tiếp tục theo học ngành luật tại Đại học Sorbonne. Hai năm sau, ông hoàn thành chương trình học của mình và được cấp bằng cử nhân Luật loại ưu.

Cũng chính trong thời gian này, Nguyễn An Ninh bắt đầu tham gia và tích cực vào phong trào yêu nước của người Việt Nam tại Pháp. Anh ấy tham gia”Năm con rồng”(gồm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh) Trong nhóm được Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tin tưởng, quý mến, là bạn, là người. cộng sự đắc lực của Nguyễn Ái Quốc, cùng thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, cùng viết bài, quảng bá cho tờ báo. Le Paria (Những người cùng khổ). Ngoài ra, Nguyễn An Ninh còn dành thời gian nghiên cứu các lý thuyết cách mạng trên thế giới. Ông cũng kết nối rộng rãi với các nhà hoạt động cánh tả và cộng sản ở Pháp và một số nước khác ở châu Âu.

Ngày 3 tháng 10 năm 1923, Nguyễn An Ninh về nước và bắt đầu hoạt động yêu nước, cách mạng chống lại chính quyền thực dân Pháp. Ngày 25-1-1923, ông có bài phát biểu đầu tiên trước đông đảo thanh niên trí thức Sài Gòn với chủ đề “Xây dựng nền giáo dục cho người dân An Nam“Sau đó, ngày 15 tháng 10 năm 1923, Người giảng lần thứ hai tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với bài“Lý tưởng của thanh niên An NamTrong hai bài diễn văn này, Nguyễn An Ninh đã công kích kịch liệt những chính sách của chính quyền thực dân, kêu gọi nhân dân, nhất là lớp trẻ hăng hái rũ bỏ những ràng buộc hủ tục, bất tuân và bất công. Bất chấp sự áp bức của thực dân Pháp, họ đã ra đi tìm đường cứu nước và xây dựng nền văn hoá mới tự do, hiện đại cho dân tộc. Nguyễn An Ninh tưởng như vậy nhưng chính quyền thực dân vô cùng tức giận, Thống đốc Cognacq và mật thám Arnoux triệu ông đến Dinh Thống đốc để đe dọa và tuyên bố cấm nói chuyện ở nơi công cộng. công cộng.

Sự đe dọa của chính quyền thực dân không làm Nguyễn An Ninh nản chí, trái lại càng khiến ông quyết tâm tiến lên trên con đường đã chọn. Ngày 10 tháng 12 năm 1923, ông thành lập tờ báo La Cloche Felee (Bells) bằng tiếng Pháp, ra mắt công chúng tại Sài Gòn. Đây là một trong những tờ báo đầu tiên thuộc dòng báo chí trực tiếp phê phán mạnh mẽ chính quyền thực dân Pháp, đồng thời giới thiệu, quảng bá những tư tưởng cách mạng, nhất là tư tưởng cách mạng Pháp và Ấn Độ. Bằng cấp và chủ nghĩa Mác. Nguyễn An Ninh cũng đăng lại trên La Cloche Felee Một số bài viết của Nguyễn Ái Quốc đã được đăng trên báo Le Paria. Để đàn áp tờ báo, chính quyền thực dân cấm máy in và Sở Bưu chính không cho phép họ in và phân phối, vận chuyển La Cloche Felee. Nguyễn An Ninh liền bán hết tài sản để lập xưởng in riêng. Sau đó, anh ta để đầu trần, xõa tóc, mặc quần áo bà ba, tự đi guốc mộc đi bán báo. La Cloche fêleé trên đường phố Sài Gòn. Hành động yêu nước bất khuất của ông được nhân dân Sài Gòn và Nam Kỳ hết sức khâm phục, ủng hộ. Nguyễn An Ninh trở thành thủ lĩnh và thần tượng của phong trào yêu nước triệt để của thanh niên Nam Kỳ. Qua đó, ông đã góp phần to lớn vào sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh của quần chúng trong những năm 1925 – 1926.

Năm 1926, ông bị chính quyền thực dân bắt giam 2 năm. Sau khi mãn hạn tù, anh đã thành lập Đảng Cao vọng của Thanh niên, một tổ chức yêu nước hoạt động theo nguyên tắc hội kín ở Nam Kỳ. Đồng chí cũng đã phối hợp với các cán bộ của Hội Thanh niên Khách mạng Việt Nam trong công tác vận động quần chúng và phát triển tổ chức của Hội. Ông lại bị Pháp bắt giam vào cuối năm 1928.

Ra tù lần thứ hai (1931), Nguyễn An Ninh hăng hái tham gia hoạt động yêu nước và cách mạng, sát cánh cùng các chiến sĩ cộng sản và yêu nước đấu tranh giữ gìn và khôi phục phong trào sau khi mãn hạn tù lần thứ hai. thời gian. Làm thất bại phong trào Cách mạng 1930 – 1931. Cùng với chiến sĩ cộng sản Nguyễn Văn Tạo, cuối tháng 4 năm 1932, Nguyễn An Ninh thành lập tờ báo công khai bằng tiếng Pháp. La Lutte (Trận đánh). Đây là một tờ báo cách mạng rất có uy tín ở Sài Gòn và Nam Kỳ. Cùng với những người cộng sản, Nguyễn An Ninh đã tích cực vận động trong cuộc bầu cử Hội đồng Quận ủy Nam Kỳ năm 1933. Đây là lần đầu tiên các chiến sĩ cộng sản và yêu nước tổ chức thành công. các cuộc đấu tranh công khai sôi nổi của quần chúng nhân dân.

Sau thắng lợi vang dội của Mặt trận Bình dân Pháp, tháng 6-1936, Chính phủ Bình dân được thành lập ở Pa-ri do Léon Blum đứng đầu và tuyên bố cử phái đoàn thanh tra khảo sát tình hình các thuộc địa của Pháp. kể cả Đông Dương. Nhân cơ hội đó, một số phần tử cơ hội trong giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản Nam Kỳ định tranh thủ nhân danh “thổ dân” để đệ đơn yêu sách lên Chính phủ bình dân. Trong khi đó, cơ sở Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn chưa được khôi phục và Đảng chưa có chủ trương cụ thể về vấn đề này. Nguyễn An Ninh đã rất nhạy bén trong việc phát động phong trào “Đông Dương đại hội”, một phong trào đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi. Sáng kiến ​​của Nguyễn An Ninh nhanh chóng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong vòng hai tuần cuối tháng 9 năm 1936, khoảng 600 Ủy ban Hành động đã được thành lập ở Sài Gòn và Nam Kỳ, hầu hết do các đảng viên Cộng sản lãnh đạo, tích cực vận động tập hợp quần chúng và thức tỉnh quần chúng. .

Phong trào Đông Dương đại hội đã mở đầu cho cao trào đấu tranh đòi quyền sống và dân chủ, diễn ra trên phạm vi cả nước Việt Nam từ năm 1936 đến năm 1939. Cao trào này được coi là “buổi diễn tập thứ hai“Vì thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này. Trong thời kỳ đó, Nguyễn An Ninh luôn sát cánh cùng các chiến sĩ cộng sản trong các phong trào vận động của quần chúng, nhất là trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, báo chí và trong các cuộc vận động bầu cử.

Ở Sài Gòn và Nam Kỳ lúc bấy giờ Trotskits và những người theo chủ nghĩa Lập hiến cũng đang tích cực hoạt động để tranh giành ảnh hưởng với Đảng Cộng sản Đông Dương. Tuy chúng không có cơ sở sâu rộng trong quần chúng, nhưng hầu hết là những trí thức Tây học có tiếng, nên việc đấu tranh chống lại những luận điểm tuyên truyền của chúng không hề đơn giản. Trong bối cảnh đó, với tư cách là một nhà lãnh đạo, một trí thức được nhân dân hết lòng yêu mến, Nguyễn An Ninh đã đứng về phía những người cộng sản và chiến đấu không thương tiếc với hai nhóm người này. Ông là thân tín của Tổng Bí thư Hà Huy Tập và của các chiến sĩ cộng sản khác như Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Văn Trân, Dương Bạch Mai, v.v.

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở Châu Âu. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ngay lập tức tuyên bố thiết quân luật, siết chặt chế độ cai trị tàn bạo hòng ngăn cản nhân dân ta vùng lên tự giải phóng. Chúng ráo riết truy lùng, bắt bớ, sát hại các chiến sĩ yêu nước, cách mạng. Ngày 4-10-1939, Nguyễn An Ninh bị Pháp bắt lần thứ 5. Sau đó, anh ta bị kết án 5 năm tù giam và 10 năm lưu đày. Chúng bắt giam và tra tấn tại nhà tù Côn Đảo. Ông mất ngày 14 tháng 8 năm 1943, hai năm trước khi đất nước giành lại độc lập.

Từ một sinh viên Trường Đại học Đông Dương, Nguyễn An Ninh đã trở thành một chiến sĩ, một nhà lãnh đạo có uy tín lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào yêu nước Việt Nam trong suốt gần 2 thập kỷ (1923 – 1943). ). Ông còn là nhà tư tưởng, nhà văn hóa, nhà báo lớn. Những tác phẩm của ông về tư tưởng chính trị, về tôn giáo, về văn hóa đã có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình lịch sử, văn hóa – tư tưởng Việt Nam hiện đại. Đồng chí là một trong những người tiêu biểu nhất của lớp trí thức “Tây học” đầu tiên, dũng cảm dấn thân, cống hiến hết mình, hết tài năng, dũng khí và cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức. bức tranh về chủ nghĩa thực dân. Để hiểu rõ hơn về tầm vóc của Nguyễn An Ninh, sau đây là những nhận xét, đánh giá của một số nhà lãnh đạo, nhà khoa học lớn về ông.

Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam viết:Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước lớn, một trí thức lớn. “

Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng Chính phủ viết: “Tôi khẳng định Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên cường, kiên cường chiến đấu cho Tổ quốc, cho dân tộc cho đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn An Ninh mang tầm vóc của một nhà lãnh đạo cách mạng, vì vậy chúng ta phải ghi nhớ những công lao đóng góp quan trọng của một nhân vật có tầm vóc lịch sử ”.

Hà Huy Giáp, một trong những nhà cách mạng tiền bối đã viết: “Nguyễn An Ninh là một chiến sĩ cách mạng rất năng động, nhạy bén với thời cuộc. Cả cuộc đời ông là cuộc đời đầy hy sinh, gian khổ, 5 lần bị tù đày cho đến chết ở địa ngục Côn Đảo, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, trước Đảng cộng sản Ở Việt Nam, nhất là những năm 1925 – 1926, nhân dân miền Nam coi ông như một vị lãnh tụ cách mạng, hơn thế nữa, họ tôn thờ ông như một thần tượng ”.

GS. Trần Văn Giàu, nhà cách mạng tiền bối, nhà sử học lớn đã viết: “Anh Ninh, với mái tóc dài ngang vai, đôi mắt sáng như sao, giọng nói trong như chuông. Vào Sài Gòn, anh viết bà nội, đi guốc, đi bán báo. Bản thân hình ảnh đó cũng đủ gây cảm động sâu sắc với đồng bào.”. (…) Một thời Nguyễn An Ninh là thần tượng của nhân dân sáu tỉnh và học sinh chúng tôi. (…) Con người sôi nổi, bình dân ấy, hùng biện trên diễn đàn, sắc bén trên chuyên mục báo chí, không sợ Tây, ác, đi tù như về quê, con người ấy đồng thời là con người chiêm nghiệm, chiêm nghiệm. (…) Nguyễn An Ninh là một chính trị gia, học giả, nhà hoạt động xã hội. Trước hết, Người là con người của quần chúng, con người của nhân dân. (…) Trong mắt, trong lòng người dân Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, nhà bác học Nguyễn An Ninh là một nhà cách mạng đáng được ghi nhớ bằng bia đá và tượng đồng“./.

Tổng hợp bởi VEZ