Chào bạn đọc. , mình sẽ đưa ra đánh giá khách quan về các tips, tricks hữu ích phải biết bằng nội dung Liệt sĩ, Anh hùng Trần Thị Bắc, nguyên mẫu trong bài thơ “Đôi Núi” của nhà thơ Vũ Cao

Kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ, những kỷ niệm được khơi lại với những ký ức đầy xúc động: trong buổi tọa đàm “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng” do Huyện ủy tổ chức vào mùa hè năm 2014, chúng tôi được gặp gỡ những người thân trong gia đình của Liệt sĩ Trần Thị Bắc, nguyên mẫu bài thơ Núi Đôi của nhà thơ Vũ Cao càng hiểu sâu sắc hơn chuyện tình đẹp và sự hy sinh dũng cảm của chị.

Đừng Bỏ Lỡ

Nhận miễn phí 3.000.000 SHIB. Cơ hội x100 lần tài khoản với SHIB

1

Chân dung Liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Bắc (1932-1954)

Hình ảnh đẹp của người phụ nữ trong bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi / Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” đã tiếp bước những người lính hành quân ra quân chống Mỹ và gieo vào lòng lớp người hôm qua và hôm nay niềm xúc động, tự hào về hình ảnh anh hùng liệt sĩ. thực. Những câu chuyện mà tôi được nghe kể lại từ những người thân trong gia đình bà và thôn đội trưởng năm 1954, ông Nguyễn Văn Lịch, đẹp hơn, hào hùng hơn và sâu sắc hơn những gì tôi tưởng tượng qua lời thơ của nhà thơ họ Vũ. Cao.

2

Anh Trần Văn Nhuận, anh trai Liệt sĩ Trần Thị Bắc thắp hương trước mộ chị tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Sóc Sơn

“Xuân Dục, Đoài Đông hai cành lúa / Bữa sau anh đến nhé”. Câu thơ của Vũ Cao cho ta biết về làng Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh, quê ngoại của bà, xã Lạc Long, huyện Đa Phúc, nay là huyện Sóc Sơn. Cô sinh năm 1932, thuở ấu thơ đã chứng kiến ​​cảnh cha bị thực dân Pháp bắt giam ở Sơn La, rồi Hỏa Lò. Thuở thiếu nữ, bà thấu hiểu con đường cách mạng đầy chông gai khi biết ông Trần Văn Bích là cơ sở của Huyện ủy Đa Phúc năm 1945-1946, người chú là Trần Văn Nghiêm xung phong tham gia giải phóng quân và hy sinh. Năm 1949, 17 tuổi, bà tham gia Ban Chấp hành Phụ nữ xã Lạc Long; rồi xung phong vào du kích, như một lẽ tất yếu của lý tưởng cao đẹp, muốn cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho độc lập, tự do của đất nước, quê hương. Lúc bấy giờ, Núi Đôi – tên hai ngọn núi thơ mộng, cũng là đỉnh cao để quân Pháp đóng bốt kiên cố, trang bị hỏa lực mạnh. Ông Nguyễn Văn Lịch, nguyên xã đội trưởng cho biết: “Tháng 7-1949, địch đóng cọc gạch ở Núi Đôi cùng với hệ thống từ núi Thần Lân, Mán Tép, Đắc Tài, Tư Tạo, Phù Lỗ tạo thành hệ thống. bảo vệ và kiểm soát các hoạt động của chúng tôi. Từ năm 1950, chúng xây dựng hệ thống boong-ke từ trung du đến đồng bằng, lập vành đai trắng, tiêu diệt phong trào kháng chiến ác liệt với phương châm “Không để một tấc đất nào lọt vào tay cộng sản”. Vì vậy, ở Núi Đôi, ngoài những bốt gạch cũ, chúng đã xây mới 5 bốt bằng bê tông cốt thép và gia cố lực lượng, gồm một đại đội Tây trắng, Tây đen, một trung đội lính bảo hoàng, có cả tiểu đoàn. Sóc Sơn là cửa ngõ để cán bộ của ta từ vùng tự do vào hậu phương địch tiến sâu vào Hà Nội và ngược lại. Vì vậy, nhiệm vụ bám dân, giữ đất, liên lạc, đưa đón cán bộ là hết sức quan trọng. Xã Lạc Long có khoảng 30 du kích, chia làm ba tổ: Tổ du kích Thượng Dược theo dõi trại Lanive; Đội du kích Lương Châu giám sát Miếu Thờ, đội du kích Xuân Đoài giám sát trại Núi Đôi. Dũng cảm, mưu trí, nhanh nhẹn, chị Bắc là đội trưởng du kích Xuân Đoài. Năm 1951, bà được giao làm cả 3 nhiệm vụ: quân báo, cứu thương, vận tải quân sự. Thông minh, xinh đẹp, nàng làm công việc của đối phương rất hiệu quả. Người dân trong xã lúc nào cũng thấy một cô gái xinh đẹp, tóc dài buộc khăn mỏ quạ xách giỏ hàng đi bán ở chợ, không ai biết cô đang túc trực, nắm bắt tin tức. Dân làng đến nay vẫn lưu truyền câu chuyện vị tướng quân vào quét làng, thấy nàng xinh đẹp nên muốn cưới nàng làm vợ lẽ. Chớp lấy thời cơ thuận lợi đó, chị tranh thủ lệnh cho Nam và Định tự động mang súng vào hàng. Anh Tám Hồng thợ mộc trại Núi Đôi và chị Tuệ vợ Tây trở thành cơ sở nội ứng, cung cấp cho chị những thông tin kịp thời về kế hoạch càn quét của địch. Cũng chính nhờ những con mối mà du kích xã đã xâm nhập được vào trại Núi Đôi, lấy được lựu đạn và mìn của địch để phục kích. Giặc đánh hơi được, biết chị là du kích, vào làng bắt bố về tra tấn dã man nhưng anh ngoan cố chịu đòn của địch, không chịu nhận con làm du kích.

Tình yêu và sự hy sinh anh dũng, đẹp hơn cả trong thơ

“Anh sống chung tình, chết chung thủy / Em nhìn lên hai sườn núi / Hàng thông bên đường quen / Nắng chợt mờ / Núi còn hai mà em mất anh”. Nhà thơ Vũ Cao nghe câu chuyện mà dân làng Phù Linh kể về nàng, đã xúc động sáng tác bài thơ Núi Đôi nổi tiếng. Tôi cũng như bao người tin rằng, giữa tuổi thanh xuân tươi đẹp có một người con gái đã hy sinh hết mình. Chỉ đến Sóc Sơn, gặp chị Trần Thị Thiệp, em gái liệt sĩ, có gương mặt giống ảnh Bắc, được đọc tài liệu của các nhân chứng lịch sử, tôi mới biết thêm về cuộc đời và các mối quan hệ. Tình yêu của chị dành cho chiến sĩ Trịnh Khanh của Đại đội Trần Quốc Tuấn, Trung đoàn 121 – đơn vị chủ lực chiến đấu ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Cô và anh tình cờ gặp nhau tại xã Bắc Sơn khi anh đóng quân ở đó và cô theo học lớp điều dưỡng. Họ nhận nhau là đồng hương Phù Linh, vì anh là người Vệ Linh. Tình yêu chớm nở trên đường kháng chiến. Họ hứa sẽ tổ chức đám cưới sau khi anh đánh tan giặc ở trận Bắc Hồng (Đông Anh). Thương cảm cho hai đứa con, mẹ cô gánh kẹo kéo lên vùng tự do Hồng Kỳ cho hai đứa làm đám cưới vào ngày 9 tháng 12 năm 1953. Chiếc giường hạnh phúc thời kháng chiến là rơm thơm. Hai ngày sau, cô phải từ biệt anh và trở về quê hương làm nhiệm vụ. Anh không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn.

3

Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

Tháng 3 năm 2014

Ngày 16/3/1954, 10 giờ đêm, chị dẫn đầu đoàn cán bộ từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm ở xã Phù Linh chuẩn bị xung trận. Vừa ra đến cánh đồng ở bãi biển Thái Hòa (nay gần bến nước Xuân Đoài), cả đoàn đã rơi vào ổ phục kích của địch. Cô hét lớn với đồng đội. Địch điên cuồng xả đạn vào chị. Ngay trong đêm, xã đội đã cử 4 du kích là anh Túc, anh Thước, anh Hợi, anh Viết Thi ra vớt xác chị Bắc. Khi họ đến nơi cô ngã xuống, máu đã loang lổ trên cỏ. Đồng đội gạt nước mắt, cõng chị về chùa Vệ Sơn Đoài (Tân Minh). Lễ an táng liệt sĩ Trần Thị Bắc tại khu vực Cầu Con được tổ chức trọng thể trước sự chứng kiến ​​của các đồng chí Huyện ủy Đa Phúc, đồng đội và nhân dân xã Lạc Long. Riêng gia đình chị ở Lương Sơn có bà con trong vùng địch hậu, không có mặt trong giờ phút đau thương ấy. Bà Trần Thị Thiệp, em gái liệt sĩ Trần Thị Bắc cho biết: Đêm đó, nghe nó rơi đạn liên hồi từ núi Đôi, mẹ tôi không tài nào ngủ được, lúc nào cũng cầu trời cứu con khỏi nguy hiểm. Sáng sớm hôm sau, chị Hợi của tôi ra ruộng sen, thấy trên ruộng có một chiếc khăn đen trơn giống hệt chiếc khăn của chị Bắc, bèn mang về cho mẹ tôi. Bà cụ khóc, ruột đau nhưng không được về mộ bà ở Cầu Con. Địch gọi toàn bộ dân làng đến bãi chè thôn Lương Châu để tra mặt, kiểm tra chứng minh thư. Lúc đó bố tôi đang đi bộ đội phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ chưa về được. Con gái tôi mất, chồng tôi đi biệt tích không tin tức, mẹ tôi ốm đau mấy lần, tưởng không qua khỏi. Mãi đến khi hòa bình, ông cụ mới trở về.

Tôi hỏi bà Thiệp về ông Trịnh Khanh, bà kể: Năm 1955, ông về Cầu Cồn tìm mộ vợ rồi chuyển mộ về quê ở làng Vệ Linh (sau này các liệt sĩ Sóc Sơn được dời về Tiên Dược. xã, chị Bắc tập kết với đồng đội ở đó).

4

Các đại biểu tham dự Tọa đàm: “Liệt sĩ Trần Thị Bắc với quê hương Sóc Sơn anh hùng”,

Tháng 3 năm 2014

Sau 3 năm để tang vợ, đến lượt mẹ Bắc, mẹ ruột và mẹ nuôi của anh Khánh đi xin vợ cho anh. Từ đó đến nay, trước khi mất (năm 2013), dù sinh sống tại xóm Hậu Đường, xã Kim Chung (Đông Anh) nhưng gia đình bà Bắc vẫn coi ông Khánh là anh rể lớn trong gia đình, mối quan hệ. là hoàn hảo trong quá khứ. mỗi dịp lễ tết, sự hiếu thảo của gia đình cô.

5

Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cho liệt sĩ Trần Thị Bắc, tháng 7/2018

Câu chuyện tình yêu kết thúc có hậu, có tình người, thủy chung, thủy chung. Hình của chị sống trung thành chết trung thành đẹp hơn trong lòng mọi người hôm nay. Tháng 7/2018, Nhà nước tuyên dương liệt sĩ Trần Thị Bắc là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Quê hương Sóc Sơn rất đỗi tự hào về người nữ anh hùng đã trở thành biểu tượng cao đẹp cả trong thơ ca và đời sống cho thế hệ sau noi theo.

Ths. Phạm Kim Thanh

Tổng hợp bởi VEZ