VEZ chào đọc giả. , tôi xin chia sẽ về các chủ đề ít người biết xung quanh cuộc sống bằng nội dung Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm và giữ nước, Việt Nam đã có nhiều cuộc nổi dậy tiêu biểu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và thống nhất đất nước, trong đó nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng.

Đừng Bỏ Lỡ

Cách Đào TRX Coin kiếm 5% mỗi ngày

Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, con gái của Lạc tướng Mê Linh (vùng Sơn Tây xưa và tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), thuộc dòng dõi Hùng Vương. Thân mẫu là bà Man Thiện, quê quán Nam Nguyên – Ba Vì – Sơn Tây – Hà Nội. Chồng mất sớm, bà Man Thiện một mình nuôi hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị; bà dạy các con cách trồng dâu, nuôi tằm; Dạy con yêu nước, rèn luyện sức khỏe và võ thuật.

Trưng Trắc là một phụ nữ dũng cảm, mưu trí và khôn ngoan. Chồng bà là Thi Sách, con của Lạc tướng quân Chu Diên (Hà Nội). Gia đình Thi Sách là một dòng họ yêu nước, có thế lực ở Chu Diên.

Trưng Trắc, Trưng Nhị được nhân dân Mê Linh tín nhiệm. Từ lâu, hai chị em vẫn căm ghét cuộc sống chuyên chế của quan tổng trấn nhà Đông Hán là Tô Định. Chính sách chuyên chế này thực chất là chính sách áp bức, bóc lột của nhà Đông Hán với toàn thể nhân dân Âu Lạc, từ lạc tướng đến nô lệ.

Cuộc hôn nhân giữa Trưng Trắc và Thi Sách khiến ảnh hưởng của bà – lực lượng chống đối chính quyền do Tô Định làm đại diện – càng thêm mạnh mẽ. Để tước bỏ ảnh hưởng của dòng họ Trưng Trắc đã lan rộng khắp vùng đất Vĩnh Phúc, Tô Định tìm cách giết Thi Sách. Hành vi bạo ngược của Tô Định không làm cho Trưng Trắc yếu lòng mà ngược lại càng khiến bà quyết tâm khởi nghĩa lật đổ chính quyền đô hộ, áp bức của nhà Đông Hán, khôi phục nền độc lập. trả nợ nước, báo thù nhà ”.

A1

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Bà Trưng đặt nợ nước lên trên lòng căm thù chồng. Tuyên thệ trước ba quân, bà nêu bốn mục tiêu của cuộc khởi nghĩa:

Xin một lòng rửa sạch nước thù

Hải hãy gây dựng lại cơ nghiệp xưa của nhà họ Hùng.

Bố than thở về tấm lòng của chồng

Bốn vui lòng hoàn thành văn phòng công cộng này

Tháng 2 năm Canh Tý (năm 40), Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ – Hà Nội). Yêu nước từ khắp nơi đổ xô về tụ hội ở Mê Linh. Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến lên, tấn công Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) – kinh đô của chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ. Chế độ áp bức của nhà Hán bị lật đổ, Luy Lâu được giải phóng.

A2

Bản đồ đường đi của Hai Bà Trưng

Từ lâu, người Việt và các tộc người ở quận Giao Chỉ, quận Cửu Chân (nay là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), quận Nhật Nam (nay là vùng đất từ ​​dãy Hoành Sơn đến Quảng Nam) vô cùng căm phẫn. căm giận chế độ áp bức, bóc lột của thời Đông Hán. Vì vậy, khi chính quyền Đông Hán bị lật đổ ở Luy Lâu, nhân dân các huyện này đã hào hứng tham gia cầm vũ khí chống lại quan lại, binh lính Đông Hán.

Được nhân dân khắp nơi ủng hộ và hưởng ứng, nghĩa quân Hai Bà Trưng đi đến đâu cũng tan vỡ chính quyền và nghĩa quân nhà Đông Hán. Các dân tộc Mân, Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông) đều hưởng ứng. Khi Tô Định, Thứ Sử, Thái thú nhà Đông Hán thấy nghĩa quân nổi lên như vũ bão, đều hoảng sợ cùng nhau bỏ chạy sang Trung Quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, ​​các cuộc khởi nghĩa ở địa phương đã được thống nhất thành một phong trào khởi nghĩa rộng lớn của quần chúng khắp nơi, từ miền xuôi đến miền xuôi, kể cả người Việt và các dân tộc khác. ở nước Âu Lạc cũ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã giải phóng 65 quận, huyện, tức là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam lúc bấy giờ. Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước hoàn toàn độc lập. Trưng Trắc được tôn làm vua (Trường Vương), đóng đô ở Mê Linh:

Đỗ Kỷ khép lại bờ cõi Mê Linh

Lĩnh Nam chích quái có triều đình riêng ở nước ta

Thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân, khi lên ngôi vua, dù chỉ ở trong một thời gian ngắn, Trưng Vương đã đưa ra những quyết định quan trọng như: ra lệnh miễn thuế cho dân trong hai năm, bãi bỏ chế độ lao dịch và các thủ đoạn quân sự cũ. .. Anh hùng dân tộc Trưng Vương đã lập và giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc gần 3 năm.

Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo lật đổ chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Tin tức này được đưa đến triều đại nhà Hán. Vua Quảng Vũ của nhà Hán chuẩn bị phản công. Năm 42, Quang Vũ sai Phục ba tướng là Mã Viện và tướng Doãn Chí đem quân từ các vùng Quế Đường, Linh Lang, Thương Ngô sang Âu Lạc đánh Trưng Vương.

A3

Lược đồ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán (40-43)

Bộ binh của Mã Nguyên và thủy quân lục chiến của Duan Zhi gặp nhau tại Hepu. Tại đây, Doãn Chí lâm bệnh chết, Mã Viện thu phục thủy binh của Doãn Chí. Mã Viện và quân của ông theo bờ biển đến Âu Lạc. Đầu tiên, quân Hán tiến vào đất tỉnh Hồng Quảng. Từ Hồng Quảng, quân Hán ngược sông Bạch Đằng đến Lục Đầu, tiến vào Lãng Bạc – Tiên Du – Bắc Ninh.

Nghe tin giặc Hán do Mã Viện chỉ huy tiến vào Lãng Bạc, Trưng Vương cùng em là Trưng Nhị đem quân từ Mê Linh tiến đánh Mã Viện. Tại đây đã diễn ra trận chiến ác liệt giữa quân ta và quân xâm lược. Quân của Trưng Vương anh dũng chiến đấu, nhưng vì yếu thế nên thua, phải rút về Cẩm Khê (Yên Lạc – Vĩnh Phúc). Mã Nguyên cho quân đuổi theo. Sau gần một năm anh dũng đánh giặc, cuối cùng do sức yếu, quân ta đã tan vỡ. Hai Bà Trưng về Hát Môn (Phúc Thọ – Hà Nội) ném xuống sông Hát Giang tự vẫn. Đến đây, cuộc kháng chiến do Hai Bà Trưng lãnh đạo về cơ bản đã thất bại, nhưng ở nhiều nơi nhân dân và nghĩa quân vẫn tiếp tục đánh giặc. Tại quận Cửu Chân, một bộ phận nghĩa quân do Du Dương chỉ huy tiếp tục chống quân xâm lược nhà Đông Hán.

Tháng 11/33, Mã Viện mở đường qua Tắc Khẩu (Yên Mô – Ninh Bình) vào Cửu Chân đàn áp nghĩa quân. Lãnh đạo địa phương và nhân dân nơi đây đã tiếp tục chiến đấu anh dũng. Hàng trăm thủ lĩnh, hàng nghìn nghĩa quân bị Mã Nguyên tàn sát. Nước ta mất độc lập.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tuy chỉ mới đem lại độc lập cho đất nước được gần 3 năm nhưng ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa đó là vô cùng to lớn, dư âm của nó là muôn đời.

Hai Bà Trưng là biểu tượng cho ý chí dũng cảm, quật cường của dân tộc ta; thể hiện truyền thống yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt Nam “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” vào những năm 40 sau Công nguyên. Phụ nữ Việt Nam từ xa xưa không chỉ đảm đang, bất khuất mà còn có khả năng lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

A4

Đền thờ Hai Bà Trưng ở Mê Linh – Vĩnh Phúc

Cuộc khởi nghĩa của hai Bà là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do phụ nữ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nổ ra làm rúng động cả Nam Bộ. Từ ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa ấy tỏa ra chân lý lịch sử “Một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng đã sáng tạo ra và làm chủ vận mệnh đất nước của mình, không một thế lực nào có thể tiêu diệt được”. . Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, có lúc âm thầm, có lúc công khai của dân tộc Việt Nam. Đó là phong trào khởi nghĩa của toàn dân, quy tụ trong cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng khởi xướng, rồi lan rộng ra khắp vùng Âu Lạc xưa.

Cuộc khởi nghĩa của hai Bà đã tiêu biểu cho ý chí vươn lên của dân tộc ta, mở đầu cho xu thế phát triển của lịch sử Việt Nam. Nó có tác dụng soi đường, định hướng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau này. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một trang vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó làm sáng ngời dân tộc ta nói chung và vẻ vang người phụ nữ nói riêng. Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về Hai Bà Trưng!

Lê Khiêm tổng hợp

Nguồn tham khảo:

– Minh Hà, “Trương Trắc và Trưng Nhị”, Hai Bà Trưng và Bà Triệu, H.: Phụ nữ, 1962, tr. 3 – 14.

– Đào Duy Anh, “Khởi nghĩa Trương Trác”, Lịch sử cổ đại Việt Nam thời kỳ chuyển sang chế độ phong kiến, H., 1957, tr. 54-73.

– Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43 SCN), Lịch sử Việt Nam, Tập 1, H.: Khoa học xã hội, 1971, tr. 80-84.

Tổng hợp bởi VEZ