VEZ chào đọc giả. Bữa nay, tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức bằng nội dung Hai danh tướng được khắc trong Di sản tư liệu thế giới về lòng trung thành

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có hai vị công thần trung thành, dũng cảm, tài giỏi là Yết Kiêu và Dã Tượng, là những anh hùng có công lớn giúp nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII. Có thể nói, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, việc quân đội nhà Trần ba lần cản ngựa xâm lược khét tiếng nhất thế giới, đã tạo nên kỳ tích của một đất nước tuy nhỏ nhưng không hề yếu. đã để lại dấu ấn lịch sử vẻ vang về lòng dũng cảm chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Đừng Bỏ Lỡ
Cơ hội x100 lần tài khoản khi mua sớm MUFC Token 🎁 Giai đoạn Presale từ 3/11 – 2/12

Có được thành công đó là nhờ tinh thần đoàn kết, bất khuất của những con người tưởng chừng như rất đỗi bình thường, nhưng đã để lại cho lịch sử hôm nay và mai sau bài học sâu sắc về ý chí quyết tâm đánh giặc ngoại xâm. hiếu chiến và một tinh thần Việt Nam nổi dậy. Câu chuyện về hai người thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được khắc trong Mộc bản Đại Việt Sử ký Toàn thư – Di sản Tư liệu Thế giới lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV là một ví dụ. anh hùng của nhân dân và dân tộc Việt Nam.

1

Tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và 2 vị tướng Yết Kiêu, Dã Tượng (Ảnh Internet)

Yết Kiêu là người có tài thủy chiến. Dã Tượng có tài thuần hóa và chỉ huy một đội voi rừng. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, hai ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách, góp phần vào những chiến công lịch sử. Năm 1285, khi quân Nguyên ồ ạt xâm lược nước ta lần thứ hai. Trong trận đánh này, đã ghi dấu trong lịch sử một câu chuyện rất cảm động về lòng trung thành của Yết Kiêu đối với Tể tướng, đây cũng chính là yếu tố giúp quân đội Đại Việt thoát khỏi vòng vây của kẻ thù, từng bước giữ vững thế trận, về sau giành thắng lợi. Mộc bản của sách Đại Việt sử ký toàn thư có khắc như sau: Trong trận đánh ở Bãi Tần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dùng thuyền ra trận, giao cho Yết Kiêu ở lại giữ thuyền, trong khi. Dã Tượng đi theo vệ sĩ. . Vì sức địch quá lớn, quân Trần không ngăn nổi sức tiến công như vũ bão của địch nên thủy quân đóng ở Bãi Tân chặn hậu cũng bỏ chạy, lúc này Hưng Đạo Vương định rút chạy theo đường núi. . Dã Tượng thấy vậy nói: “Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương nên nhất định không chịu xuống thuyền”. Hưng Đạo Vương liền trở lại Bãi Tần, quả nhiên Yết Kiêu vẫn đợi thuyền, bất chấp nguy hiểm có thể xảy ra. Vừa mừng vừa cảm động, Hưng Đạo Vương thốt lên: “Chim hồng hạc muốn bay cao thì phải dựa vào sáu trụ của cánh, nếu không có sáu xương cánh ấy thì chẳng khác gì loài chim bình thường. ” Nói xong liền lên thuyền rời đi, địch không kịp trở tay. Hưng Đạo Vương rút về Vạn Kiếp, chia quân đóng ở Bắc Giang.

Trong các cuộc kháng chiến, Yết Kiêu còn sử dụng tài bơi lặn của mình để thọc sâu vào hàng ngũ địch, chọc thủng và đánh chìm tàu ​​chiến của địch, lập nhiều chiến công vang dội, góp công lớn trong các cuộc kháng chiến. . Mùa đông, Yết Kiêu không ngại giá rét, đêm đêm lặn xuống biển, nằm dưới đáy thuyền, dùng dùi sắt nhọn đâm thủng thuyền. Tàu địch bị nước biển tràn vào và chìm ngay lập tức. Kẻ thù sợ hãi. Lúc đầu họ không hiểu tại sao. Sau khi giặc giăng lưới bắt Yết Kiêu. Họ hỏi anh ta, “Có bao nhiêu người ở đất nước của anh có thể bơi và lặn như anh?” Anh ta trả lời: Nước Nam giới Có rất nhiều vận động viên bơi lội tài năng như tôi. Hiện tại, chúng vẫn đang ẩn náu trên biển để cắt thuyền, chỉ có tôi là không may bị bắt. Nếu anh thả tôi ra, tôi sẽ dẫn họ đến nơi ẩn náu. Giặc tưởng thật, chúng lấy thuyền nhẹ chở anh đi. Khi địch sơ suất, đồng chí liền nhảy xuống biển, bổ nhào vào doanh trại, tiếp tục cùng quân dân ta đánh giặc cứu nước.

Năm 1288, trên đường chuẩn bị cho trận Bạch Đằng lịch sử, con voi chở Hưng Đạo Đại Vương bị sa lầy và chìm dần xuống bùn. Dù đã dùng nhiều cách nhưng sau đó con voi chiến thân cận của Hưng Đạo Vương cứ chìm dần, chìm nghỉm. Dã Tượng và Hưng Đạo Vương nhìn đồng bọn sắp chết mà đau lòng. Dã Tượng bèn quỳ xuống trước mặt Hưng Đạo Vương xin lên ngựa cho kịp giờ xuất quân, ta ở lại đuổi theo. Trận ấy, Dã Tượng trấn giữ đại quân trên núi Tràng Kênh, đánh tan quân của Phàn Tiếp, máu giặc nhuộm đỏ sông. quân sĩ, bỏ mũi tên trên người, nhảy xuống sông trốn nhưng vẫn bị quân Trần bắt. Trận Bạch Đằng quyết định toàn thắng, toàn bộ quân giặc bị tiêu diệt, chìm trong sóng nước. Cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân dân Đại Việt thắng lợi rực rỡ. Từ đó, giặc Nguyên Mông từ bỏ ý định xâm lược nước ta.

Về Yết Kiêu, Theo Báo Hải Dương, ông tên thật là Phạm Hữu Thế, con ông Phạm Hữu Hiệu, quê Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, quê huyện Thanh Hà. Cha anh làm nghề đánh cá bên sông Quát, mẹ anh bán nước ở bến. Theo dân gian: Năm 15 tuổi, vào một buổi sáng trời quang mây tạnh, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Màn sương trắng giăng khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu trắng húc nhau liền dùng đòn ống đuổi theo khuyên can. Hai con trâu biến mất, Hữu Thế thấy có hai chiếc lông còn dính trên ống điếu, đặt vào thau nước, nước chẻ đôi. Cho rằng đây là lông trâu của thần, liền nuốt ngay vào bụng. Từ đó, Phạm Hữu Thế có thân hình cường tráng, thông minh, bơi giỏi, đi dưới nước như trên cạn. Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba, Phạm Hữu Thế với tài bơi lội “xuống nước như bình thiên hạ” (đi dưới nước thong dong, tự tại như trên cạn) đã lập nhiều công lớn. , được Vua ban sắc phong là Đệ nhất Thủy quân Nguyên soái nhà Trần. Ông được nhân dân và các vua thời Trần gọi là Yết Kiêu (tên một loài cá lớn ngày xưa).

Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách chọc thủng thuyền giặc ngay trong đêm. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu cố gắng chọc thủng hàng quân canh giữ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục khoét thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng 20 lỗ, lỗ nào phải cuộn lại và buộc bằng dây. Những mảnh vải vụn đó đều được buộc lại với nhau bằng một sợi dây. Một đêm, Yết Kiêu đục được khoảng 30 thuyền giặc. Đến gần sáng, khi bộ số thuyền đã đục xong, Yết Kiêu liền giật dây khiến giẻ trôi ra khỏi thuyền, khiến hàng chục thuyền địch bị chìm. Hoàn thành nhiệm vụ, anh nhẹ nhàng bơi về vị trí an toàn. Xưa Yết Kiêu được bao bọc bởi một bờ sông. Anh ẩn mình dưới những bụi cây và trốn tránh sự truy lùng gắt gao của kẻ thù. Chúng dùng kiếm đâm vào bụi cây, trúng đùi Yết Kiêu. Yết Kiêu nghiến răng chịu đựng, khi kẻ thù rút kiếm, chàng cố gắng chịu đau và dùng tay quệt vết máu trên lưỡi kiếm để kẻ thù không nhận ra.

Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thành công, Lê Độ được nhà Trần cử sang nhà Nguyên làm truyền nhân, mong lập lại hòa bình cho đất nước ngày càng vững mạnh, đem lại hòa bình cho nhân dân Việt Nam. Yết Kiêu vốn là một võ tướng thủy quân được phong làm tướng hộ vệ của Lê Độ. Trong lần đi sứ đó, vua Nguyên rất quý mến tài năng của Yết Kiêu và tỏ ý muốn gả công chúa rất xinh đẹp nhà Nguyên cho chàng. Anh ta liền từ chối và nói rằng để về tâu vua Đại Việt, nếu vua Đại Việt đồng ý, anh ta sẽ xin sang nhà Nguyên làm lễ cưới. Trở về nước, vua và quan nhà Trần lo mất đi một tướng tài nên không đồng ý. Công chúa nhà Nguyễn đợi mãi không thấy Yết Kiêu đến nên xin vua cha cho về Đại Việt làm lễ cưới với Yết Kiêu. Biết được tin này, vua và quan nhà Trần muốn ngăn cản cuộc hôn nhân đã báo tin Yết Kiêu chết khi công chúa nhà Nguyên đi ra biển Quảng Đông giáp Đại Việt. Công chúa thấy thương Yết Kiêu lắm, bèn thuê người tạc tượng đưa sang nước ta, lập bàn thờ để cầu hồn Yết Kiêu ở bờ biển tỉnh Quảng Đông và khấn rằng: “Ngươi và Ta chưa ở trần gian, duyên vợ chồng, nay chàng không còn nữa, ta nguyện xuống âm phủ gặp chàng nên duyên vợ chồng ”, rồi ném mình từ trên cầu xuống biển của. Quảng Đông để thể hiện lòng trung thành của mình. Hai quan võ và chín cô hầu gái cũng nhảy xuống biển tự tử để theo chúa …

2

Đền Quát ở thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, Hải Dương – nơi thờ danh tướng Yết Kiêu. (Ảnh Internet)

Yết Kiêu mất ngày 28 tháng Chạp năm Ất Sửu (1303), thọ 61 tuổi, vua Trần sai lập đền thờ bên bờ sông Hạ Bì, quê hương ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ 17 – 18, được tôn tạo khang trang và nhiều lần vào thời Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng cấp quốc gia (28/01/1989). Lễ hội Đền Quát thường diễn ra vào rằm tháng Giêng và rằm tháng Tám. Vào dịp này, nhân dân địa phương và du khách thập phương về miền sông nước Hạ Bì, đầu tiên là lễ tạ ơn Hoàng đế Yết Kiêu, sau đó là lễ hội làm bánh, hội đua thuyền, … Tại lễ hội, có là lễ tế thần công. Thời chúa Nguyễn, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.

Từ câu chuyện lịch sử Yết Kiêu và Dã Tượng cho thấy sức mạnh của Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ lòng yêu nước trong mỗi cá nhân, dù chỉ là kẻ hầu người hạ nhưng với ý chí bất khuất. tinh thần chiến đấu, tinh thần đoàn kết và lòng trung thành tuyệt đối đã giúp quân đội của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm nên những chiến công bất khả chiến bại, ba lần đánh tan quân xâm lược hung hãn nhất mọi thời đại, quét sạch giặc ngoại xâm, đem lại hòa bình, ấm no cho nhân dân. Yết Kiêu và Dã Tượng đã trở thành những anh hùng trung nghĩa vì sự nghiệp cứu nước vĩ đại, xứng danh ngang hàng với những anh hùng vĩ đại trong lịch sử, là những tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau.

Minh Vương (sợi tổng hợp)

Nguồn:

-Tài liệu về Phạm Thị Yến (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV).

– Báo Hải Dương 6/2012.

Tổng hợp bởi VEZ