Chào bạn đọc. Hôm nay, tôi xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu trong đời sống qua bài chia sẽ Đồng chí Lê Duẩn với đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Phần 2 và kết thúc)

Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất với đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam họp, đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của cả nước. nước.

Đừng Bỏ Lỡ
Cơ hội x100 lần tài khoản khi mua sớm MUFC Token 🎁 Giai đoạn Presale từ 3/11 – 2/12

Đồng chí Lê Duẩn trong Báo cáo chính trị trình đại hội nêu rõ đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: “Tăng cường chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ bóc lột con người, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu; không ngừng nâng cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.(9).

7

Đồng chí Lê Duẩn tại Lễ ký kết hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô, 1980. (Ảnh tư liệu)

Con đường xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là: “Tăng cường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên vừa thành sản xuất hàng loạt xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng ở một hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau với các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển kinh tế. quan hệ với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; đưa Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa, có nền kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học, công nghệ tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, cuộc sống văn minh, hạnh phúc.(mười).

8

Đồng chí Lê Duẩn thăm cảng Đà Nẵng, tháng 8 năm 1981. (Ảnh tư liệu)

Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hoạch định từ Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) và phát triển toàn diện tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) gắn liền với sự đóng góp quan trọng của đồng chí. Lê Duẩn. Đường lối đó đã đề ra nội dung và phương hướng cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu cần thực hiện trong thời kỳ quá độ để đưa nước ta vượt qua chủ nghĩa tư bản, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Nội dung tiến hành cùng lúc 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt, theo đồng chí Lê Duẩn là tiến hành trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung của ba cuộc cách mạng có giá trị khoa học vì đã nêu lên những vấn đề mang tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm của Việt Nam: đó là tập trung xây dựng lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới; xây dựng cơ sở kinh tế mới và củng cố kiến ​​trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ bóc lột người và thực hiện những vấn đề cơ bản là giải phóng xã hội; xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

9

Đồng chí Lê Duẩn tại công trường Thủy điện Trị An, ngày 20 tháng 2 năm 1985. (Ảnh tư liệu)

Tuy nhiên, khi tổ chức thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa lại bị chủ quan, tự nguyện, nóng vội chi phối dẫn đến sai lầm, khuyết điểm. Có thể thấy rõ những sai lầm và thiếu sót trên một số vấn đề chính:

Một là, họ đã nhận thức và vận dụng không đúng quy luật khách quan của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.. Trong khi lực lượng sản xuất còn lạc hậu, nhỏ bé, họ đã tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ồ ạt thành các cuộc vận động nhằm thiết lập ngay quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Làm như vậy với mong muốn sử dụng quan hệ sản xuất tiên tiến để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Trên thực tế, quan hệ sản xuất chưa giải phóng triệt để và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sau này, đến Đại hội VI của Đảng, chúng ta mới nhận ra sai lầm là vội vàng xóa bỏ ngay thành phần kinh tế gắn với sở hữu cá thể và tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ phát triển thành phần kinh tế – xã hội. với hai hình thức nhà nước và chủ nghĩa tập thể. “Theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải có những bước đi và hình thức phù hợp. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố vượt xa trình độ sản xuất. phát triển lực lượng sản xuất ”(11). “Cuộc sống cho chúng ta một bài học sâu sắc rằng chúng ta không thể vội vàng phá vỡ các quy tắc. Nay phải sửa lại như sau: đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất và luôn có có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.(thứ mười hai). Ở đây, cần hiểu đúng luận điểm của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Các nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản năm 1847 rằng không thể ngay lập tức xóa bỏ tư hữu, cũng như không thể xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ngay lập tức. Lê-nin cũng chỉ ra rằng, một trong những đặc điểm của thời kỳ quá độ là sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế gắn với các phương thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.

9

Đồng chí Lê Duẩn thăm nhà máy Điện Việt – Hùng, ngày 22 tháng 12 năm 1985. (Ảnh tư liệu)

Thứ hai, lựa chọn và duy trì cơ chế quản lý, phân phối chưa phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.. Đó là cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp. Ba nội dung cơ bản trong quan hệ sản xuất mới là chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, phương thức quản lý và phương thức phân phối có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau. Trong khi đặc biệt chú trọng xác lập quyền sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân và tập thể), thì tất nhiên hệ thống quản lý không thể khác là tập trung cao độ và kế hoạch hoá nằm trong tay Nhà nước. không chú trọng đến vai trò của thị trường và kinh tế thị trường và do đó không thể bao cấp khác trong cả sản xuất và tiêu dùng. Cơ chế quản lý và phân phối đó ngày càng bộc lộ những hạn chế, hiệu quả thấp, chưa tạo động lực cho lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất phát triển. Vì vậy, sức sản xuất ngày càng giảm sút, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội. Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung quản lý hành chính, bao cấp cũng có vai trò nhất định trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhất là trong điều kiện của cuộc kháng chiến. Thực tiễn đòi hỏi phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu với các chính sách kinh tế nhiều thành phần, kết hợp đúng đắn giữa kế hoạch hoá với thị trường, đa dạng hoá các loại thị trường, có như vậy mới giải quyết được vấn đề một cách đúng đắn. lợi ích và thực tế được phân phối theo lao động. Cần sửa chữa và điều chỉnh đồng bộ các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất.

11

Đồng chí Lê Duẩn thăm Bệnh viện Nhi Trung ương năm 1981. (Ảnh tư liệu)

Thứ ba, đã vội vàng trong việc hiểu và thực hiện đường lối, bước đi của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.. Năm 1970, đồng chí Lê Duẩn đưa ra khái niệm bước đầu tiên của giai đoạn chuyển tiếp là rất phù hợp. Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12-1976) với mong muốn đi nhanh chỉ còn mấy kế hoạch 5 năm là kết thúc thời kỳ quá độ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên nội dung bước khởi đầu không được đề cập. Tại Đại hội V của Đảng (tháng 3-1982), đồng chí Lê Duẩn đã nêu lên quan điểm Con đường đầu tiên của thời kỳ quá độ với việc xây dựng những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết. Đẩy nhanh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn. Đó là sự trở lại cái nhìn đúng đắn và khoa học của bước ban đầu. Nội dung của giai đoạn đầu sau đó được Đại hội Đảng lần thứ VI, VII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) kết luận là đất nước ta đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho giai đoạn đầu. Con đường đầu tiên là một quá trình chuyển đổi nhỏ trong một quá trình chuyển đổi lớn. Trong thời kỳ quá độ, Lenin nói, “chính sách của chúng ta được chia thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn. nhiệm vụ cụ thể của từng quá trình chuyển đổi đó. “(13).

12

Đồng chí Lê Duẩn nói chuyện với cán bộ ngành văn hóa nhân kỷ niệm 30 năm thành lập ngành, ngày 9/8/1985 (Ảnh tư liệu)

Quá trình điều chỉnh, sửa chữa những khuyết điểm trong việc thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa những năm 1976-1986 cũng là quá trình tìm tòi, thử nghiệm thực tiễn để đi đến quyết tâm đường lối đổi mới ở Trường ĐHBK. Đại hội VI của Đảng (12/1986). Đường lối đổi mới được thực hiện trong gần 30 năm là sự kế thừa, điều chỉnh đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đây cho phù hợp với thực tiễn thời kỳ quá độ ở Việt Nam và phát triển theo tư duy hợp lý. lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ ràng hơn.

PGS. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc(Tường Khanh giới thiệu)


Ghi chú:

9.10 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2004, tập 37, tr.523, 524.

11,12 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2006, tập. 47, tr.390, 391.

13 Lê-nin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tập 40, tr.119-120.

Tổng hợp bởi VEZ