Chào bạn đọc. Hôm nay, tôi xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu trong đời sống với bài viết danh tướng, danh thần thời Lê sơ thế kỷ XV (1400-1471).

Đinh Liệt sinh năm Canh Thìn (1400) dưới triều Hồ Quý Ly. Ông quê ở Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, là em của danh tướng Đinh Lễ, cháu gọi vua Lê Thái Tổ bằng chú. Theo gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình thì Đinh Liệt là hậu duệ của Nam Việt đại vương Đinh Liễn – con vua Đinh Tiên Hoàng.

Thuở nhỏ, ông được cha gọi là Hồng Mai, rất giỏi kinh luân, sớm có tinh thần yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm. Thời trẻ, ông là một thanh niên khôi ngô, tuấn tú, thông minh, dũng cảm, sớm bộc lộ tư chất của một đấng trượng phu.

Theo sách “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn: Khi Lê Lợi bắt đầu chuẩn bị phất cờ cứu nước, cứu dân, Đinh Liệt cùng với anh trai Đinh Lễ và Đinh Bộ đã tích cực hưởng ứng chính nghĩa. . Đinh Liệt là một trong 19 người tham dự Lễ hội thề Lũng Nhai nổi tiếng vào tháng 2 năm 1416. Ông cũng là một trong số rất ít những người tham gia lễ hội thề này có may mắn được chứng kiến ​​đại thắng và sau đó là sự hưng thịnh. và ngày thái bình của đất nước nửa đầu thời Lê sơ.

Có thể nói, một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi và Nguyễn Trãi là đã quy tụ, tập hợp được nhiều tướng tài, mưu lược, văn võ song toàn, từ đó đoàn kết. Toàn dân chống giặc Minh xâm lược. Và một trong những vị tướng tài ba đó là 3 anh em Đinh Lễ, Đinh Bộ, Đinh Liệt.

10 năm trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn, ông đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Bình Định vương Lê Lợi, gian khổ không ngại mưu trí, bại trận không khuất phục, càng đánh càng bộc lộ tài năng. Năng lực quân sự của ông phát triển mạnh mẽ. Ông nổi tiếng với hai trận đánh lớn là trận Khả Lưu và trận Chi Lăng – Xương Giang.

Cuối năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến đánh Nghệ An nhiều trận, nhưng thành công nhất là trận Khả Lưu. Nghĩa quân chiếm được Trà Lân, chuẩn bị vây thành Nghệ An thì quân Minh bất ngờ kéo đến phản công. Lê Lợi sai tướng Đinh Lễ dẫn quân mai phục trước ở thế đất hiểm trở ở Khả Lưu. Đinh Liệt được lệnh đem hơn một vạn quân, bí mật luồn xuống Đỗ Gia (nay là Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) từ đó chống trả, hỗ trợ Đinh Lễ. Chắc giặc rơi vào ổ phục kích của Đinh Lễ, không biết xoay xở ra sao mà bị quân của tướng Đinh Liệt từ phía sau tấn công ồ ạt, giặc Minh đại bại. Sau đó Đinh Liệt còn lập công đánh chiếm. Tùng Linh, Linh Cảm, giải phóng Châu Trà Lân, Ngọc Ma và có ý kiến ​​với Lê Lợi dời đại bản doanh lên núi Thiên Nhẫn. Trong thời gian này, Bạch Ngọc hoàng hậu của nhà Hậu Trần đang chiêu dân lập ấp, khai phá vùng đất này, bà đã mở tiệc chiêu đãi các tướng lĩnh đã có nhiều đóng góp trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh của Lê Lợi là tướng Đinh. Lieh đã được mời và điều trị.

Cuối năm 1427, được tin Liễu Thăng cùng nhiều tướng giỏi của nhà Minh dẫn đầu một đoàn quân lớn gồm 100.000 quân sang cứu viện cho Vương Thông đang bị quân ta vây hãm ở Đông Quan. Quân Lam Sơn quyết đánh trận quyết định với địch ở hai địa điểm trọng yếu nhất là Chi Lăng và Xương Giang. Lê Lợi sai các tướng Đinh Liệt, Lê Sát, Lê Mãn, Lưu Nhân Trụ đem 10 vạn quân bí mật yểm hộ địch mai phục ở vùng Chi Lăng hiểm trở của Lạng Sơn trực tiếp đánh những trận đầu tiên với tu vi. quân địch. Đạo quân do Đinh Liệt chỉ huy có công lớn trong trận phục kích ở núi Mã Yên, giết chết Liễu Thăng tại chỗ. Chiến thắng vang dội của trận càn này đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của các tướng sĩ Lam Sơn, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn cho những trận đánh quan trọng sau đó.

Vì những công lao kể trên, ngay sau khi lên ngôi (năm Thuận Thiên thứ nhất, 1428), vua Lê Thái Tổ đã ban thưởng cho 93 công thần. Trong đó, Đinh Liệt và Đinh Lễ được phong làm Phó tướng (Phó chỉ huy) Vệ binh Thiết Độc, được xếp vào hàng cao nhất trong các vị Khai quốc công thần từ trước đến nay của Hội thề Lũng Nhai. Một năm sau (1429), khi đang khắc biển công, ông được phong làm Định Thượng hầu, năm 1442, được phong Tư mã thông thiên, được vào tham nghị triều chính.

Tháng 5 năm 1434, đời vua Lê Thái Tông, ở phương Nam có quân Chiêm đến cướp bóc, ông được lệnh đem quân đánh giặc, nhưng mới đến được Hóa Châu (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. – Huế ngày nay). ), vua Chiêm là Bồ Đề nghe tin tướng Đinh Liệt dẫn quân sang đánh, sợ quá vội rút quân về. Tộc trưởng người Man ở đây là Đạo Thành bị giặc cùng bộ tộc tấn công, cầu cứu Đinh Liệt, ông đã dẫn quân sang giúp đánh tan quân Man.

Tháng 7 năm 1444, sau vụ án Lệ Chi Viên (năm 1442) dưới thời vua Lê Nhân Tông. Vì vua còn nhỏ tuổi, lại có kẻ gièm pha hãm hại nên thái hậu Nguyễn Thị Anh khi cầm quyền đã sai người bắt cả dòng họ Đinh Liệt đang giữ chức Thái phó. 4 năm sau, nhờ một người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan cầu cứu, ông được thả, nhưng gia đình ông vẫn bị giam giữ, đến gần 2 năm sau ông mới được thả.

Năm 1454, ông được phục chức, được phong Thái bảo. Năm 1460, ông cùng các tướng Lê Lăng, Nguyễn Xí giết Lê Nghi Dân (người giết ông là vua Nhân Tông để cướp ngôi) và cùng tôn hoàng tử Lê Tư Thành (tức Lê Thánh Tông) lên ngôi. . Từ tháng 6 năm 1460, ông được vua sắc phong là Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Bình Chương quốc công, hàm Thái phó A Quận hầu. Tháng 12 năm 1461, Đinh Liệt và Lê Lang được vua giao chỉ huy quân đánh dẹp Lư Cấm, tướng Bồn Man, rồi được phong làm đại phu.

Năm 1465, khi Nguyễn Xí mất, ông là Tể tướng, nắm quyền quyết định nhiều việc lớn của đất nước. Cuối năm 1470 Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông là tướng cũ, được phong là Chính Lộ tướng quân, tướng quân Lê Niệm (con Lê Lãm, cháu Lê Lai) cầm đầu đi tiên phong. Trận đó quân ta thắng lớn, vua Chiêm là Trà Toàn bị bắt. Nhưng đến năm 1471, ông lâm bệnh qua đời, được phong là Trưng Mụ Vương, thọ 72 tuổi.

Ông là một trong những vị vua có công sống lâu nhất sau khi thành lập nhà Hậu Lê, trải qua 4 đời vua Lê gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Ông không chỉ là danh tướng chỉ huy quân giỏi dưới 4 đời vua mà còn là danh thần có công lớn trong việc xây dựng đất nước thái bình thịnh trị, đặc biệt là thời vua Lê Thánh Tông.

1

Khu di tích cây sáo Thái Bình, nơi có đền thờ các vị vua Đinh Liệt, Đinh Lễ, Đinh Bố.

Có tài liệu cho rằng: năm Giáp Thân (1464) với những bằng chứng xác thực, Đinh Liệt đã chứng minh Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ không giết vua mà bị vu oan rồi bị giết oan…. Vì vậy Hoàng đế Lê Thánh Tông xuống chiếu Chiêu Tuyết minh oan cho Nguyễn Trãi. Đinh Liệt được vua Lê Thánh Tông tặng 8 chữ vàng: Bốn kỳ công lớn, đời đời thùy miên, được vua ban cho đất Lộc Điền ở Đồng Cái, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. (sau Đông Cái đổi thành Đông Cao, Trung Chính, Nông Cống, Thanh Hóa). Lễ hội Đống Cao thực chất là ngày giỗ của Thái sư Lân Quốc Công Đinh Liệt, được tổ chức 5 năm một lần.

Vợ của Đinh Liệt là Lương Minh Nguyệt lúc bấy giờ cũng rất nổi tiếng. Cô quê ở làng Chùa Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và hát A Dao rất hay. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi, bà đã mở một quán rượu nổi tiếng gần thành Cổ Long (Đông Đô tức Thăng Long), nhằm dò la tin tức về giặc và giúp đỡ cuộc kháng chiến. Trong một cuộc tấn công vào thành Cổ Long, bà Minh Nguyệt và các cung nữ hầu hạ một số tướng sĩ nhà Minh say rượu, ra hiệu cho quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của tướng Lê Thạch đánh chiếm thành. Về sau, Đinh Liệt được phong Quốc công mang họ vua (Lê), bà là Nhất Phẩm phu nhân. Các đời vua sau này đều sắc phong cho vợ chồng bà là Phúc thần.

2

Tấm bia cổ trong chùa ghi lại lịch sử của chùa và công trạng của các vị Tam vương.

Con cháu Đinh Liệt sau này tiếp tục làm quan cho các triều Hậu Lê và Lê – Trịnh. Sách Danh tướng Việt Nam – Tập 2: Danh tướng Lam Sơn (Nguyễn Khắc Thuần, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996) liệt kê 7 đời con cháu Đinh Liệt đều có những danh tướng và kết luận: Theo lối xưa của nói, gia đình Đinh Liệt đúng là “hổ phụ sinh hổ tử”!

Đinh Liệt được vua Lê Thánh Tông ban lộc ở huyện Nông Cống, con trưởng là Đinh Công Niệp (còn gọi là Đinh Công Tút) đem bầy tôi khai khẩn vùng đất dưới chân núi Nưa thuộc làng Đồng Cải, Đội Tượng. xã. Ông làm quan đến chức Thị lang bộ binh, tước Vạn Thắng hầu tước, sau là Thượng thư bộ binh, dưới thời Lê Thánh Tông.

3

Lễ hội làng Đống Cao tưởng nhớ danh tướng Đinh Liệt.

Lộc Điền của họ Đinh sau này hợp nhất với làng Đông Cái cho đến đời Duy Tân nhà Nguyễn thì đổi tên là làng Đông Cao cho đến ngày nay.

Đinh Liệt được thờ là vua của làng Đống Cao, các nhân vật có nhiều công lao giúp dòng họ Đinh như Đinh Tôn Nhân, Đinh Lễ, Đinh Bộ, Đinh Vĩnh Thái, Đinh Công Chấm được thờ ở làng Đống Cao. . Bà Đinh Thị Ngọc Ban là em gái Đinh Liệt, tục gọi là bà chúa Bân có công giúp Lê Lợi nên có đền thờ riêng ngay tại làng Đống Cao.

Tên anh đã được đặt cho nhiều con đường của các tỉnh, thành trong cả nước như Hà Nội, Đà Nẵng …

Sau khi ông mất, nhân dân Thụy Côi Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã lập đền thờ ông. Ở Thái Bình lập đền thờ Tam vị. Trong số 277 vị khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, ba anh em Đinh Lễ, Đinh Bộ, Đinh Liệt được coi là những danh tướng kiệt xuất nhất của nghĩa quân Lam Sơn. Vua Lê phong tước: “Lê triều Lũng nhai Khai quốc công thần Kiến quốc công thần”. Đinh Lễ còn có tên là “Thái sư Bân quốc công”, Đinh Bố là “Thái phó Định Quốc công”, Đinh Liệt là “Thái bảo Kỳ Vũ hầu Đại tướng quân”. Cả ba người đều có danh tiếng lẫy lừng, điều này đúng với dòng chữ khắc trước cửa Đền:

“Các môn võ thuật nổi tiếng thế giới

Danh tiếng bất diệt vang tận núi sông ”.

Trải qua gần 550 năm với bao biến cố, thăng trầm của đất nước, Tam Quốc Công Miếu vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Hiện nay, Đền thờ Tam Quốc Công và đền thờ “Quốc Mẫu Ngô Thị Ngọc Giao” nằm trong quần thể di tích Đền sáo đã được trùng tu, tôn tạo khang trang.

Minh Vương

Nguồn:

– Danh tướng Lam Sơn (Nguyễn Khắc Thuần, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996).

– Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước – NXB Lao động-2012.

– Báo Đà Nẵng.

Tổng hợp bởi VEZ