Kính thưa đọc giả. , VEZ sẽ đưa ra đánh giá khách quan về các tips, tricks hữu ích phải biết qua bài viết Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật

Trần Nhật Duật sinh năm Ất Mão (1255) tại kinh thành Thăng Long trong hoàng tộc nhà Trần. Ông là con thứ 6 của vua Trần Thái Tông và hoàng hậu Thuận Thiên; anh ruột của vua Trần Thánh Tông và Thượng tướng Trần Quang Khải.

Từ nhỏ, Trần Nhật Duật đã nổi tiếng là một hoàng tử hiếu học và sớm bộc lộ thiên tài. Do cần cù, chịu khó học hành nên ông nổi tiếng am hiểu lịch sử, giỏi chính trị, quân sự, thông thạo ngôn ngữ, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số trong và ngoài nước. Ông biết tiếng Trung Hoa, tiếng Champa, và tiếng Mã Tích (tức Tumasik, bây giờ). Singapore).

Sử cũ ghi rằng khi sinh ra ông có mấy chữ “Chiêu Văn đồng tử” nên sau này được phong là Chiêu Văn Vương.

1

Trần Nhật Duật (1255-1330).

Mới ngoài 20 tuổi, Trần Nhật Duật được triều đình nhà Trần giao phụ trách các công việc dân tộc liên quan. Nhà vua rất cảm kích, có lần nói đùa rằng: “Chiêu Văn Vương chắc không phải là người Việt, mà là con cháu giống nòi. Phiên họp, Nam giới“.

Khi tiếp xúc với sứ giả nhà Nguyên, ông vui vẻ, tự nhiên nói chuyện suốt ngày khiến sứ thần nhà Nguyên tin rằng Nhật Duật là người Hán ở Chân Định (nước Triệu cũ, gần Bắc Kinh) đã đến làm quan. quan ở Đài. Tiếng Việt.

Năm 1280, tù trưởng địa phương ở đạo Đà Giang (thuộc Tây Bắc ngày nay) là Trịnh Giác Mật nổi dậy chống lại triều đình. Đồng thời, nhà Nguyên đang chuẩn bị đại quân xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Với nhu cầu cấp thiết phải chấm dứt ngay mối bất hòa trong nước, vua Trần đã cử Trần Nhật Duật làm “Đồn Đà Giang” đem quân đi dẹp.

Hay tin, Trịnh Giác Mật họp hạ bàn kế tiếp để đánh. Giác Mật ám sát nên sai sứ đến dụ Nhật Duật: “Giác Mị không dám trái lệnh hoàng thượng. Nếu chủ tử một mình một ngựa đến, Giác Mật sẽ lập tức đầu hàng ”. Các tướng can ngăn Giắc Mật mưu phản, ông chỉ nói nếu đúng như vậy thì triều đình sai vua khác làm tướng, rồi một mình vào trại Giăng Mật, chỉ bắt một số tiểu đồng trộm tráp để hầu hạ. . Tình cờ đi giữa gươm giáo và những người lính mặc sắc phục lạ lùng cố tình phô trương sự đe dọa của Giác Mật, Nhật Duật nói với chúa bằng ngôn ngữ của mình và theo phong tục của người Đà Giang:

“Các em gái nhỏ của tôi khi đi đường thì bị nóng tai trái, khi đến đây thì tai phải bị nóng.”

Từ Giác Mật đến những người đứng đầu ngành, ai cũng phải sững sờ, kinh ngạc trước sự am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán của anh. Sau đó, Giác Mi ra lệnh bưng khay rượu lên. Giác Mật mời anh uống rượu. Trần Nhật Duật không chút do dự, gắp miếng thịt vừa ăn vừa nhai vừa ngửa mặt cầm muôi bầu rượu từ từ rót vào mũi một cách rất điệu nghệ.

Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: “Chiu Vân Vương là huynh đệ của ta!”.

Trần Nhật Duật nói: “Chúng ta luôn là anh em”. Trịnh Giác Mật nhanh chóng đầu hàng, khiến nhà Trần trấn giữ được biên giới Tây Bắc để tập trung đánh quân Mông Cổ.

Tài năng của Trần Nhật Duật trải dài trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Ông rất giỏi âm nhạc và thường tự soạn nhạc, trong đó có nhiều bản nhạc chữ Nôm.

Tuy nhiên, tài năng nổi bật nhất và cống hiến lớn nhất của Trần Nhật Duật là trong lĩnh vực quân sự. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), Trần Nhật Duật thực sự là một danh tướng kiệt xuất.

Năm 1285, quân Nguyên sang xâm lược nước ta. Trần Nhật Duật được giao trọng trách chỉ huy một đạo quân lớn của triều đình đóng ở vùng Tuyên Quang ngày nay, ngăn chặn cuộc tiến quân ồ ạt của quân Mông Cổ do Thoát Hoan chỉ huy. Ông đã chỉ huy các tướng lĩnh và binh lính dưới quyền đánh nhiều trận xuất sắc, gây cho địch nhiều tổn thất lớn. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, một đội quân Nguyên từ Vân Nam tiến xuống theo đường cao tốc Tuyên Quang. Lúc bấy giờ, ông đóng quân ở trại Thủ Vật (Yên Bái), đem quân đi đánh chặn rồi lui về Bạch Hạc tuyên thệ, thề hết lòng trung thành để báo đáp vua. Sau đó, ông rút về Thiên Trường hội quân với quân triều đình.

Mùa hè năm 1285, quân ta tổ chức phản công. Trong 5 chiến dịch lớn nhất của cuộc phản công chiến lược này đều do Quận công Thiết Hưng Đạo Vương trực tiếp chỉ đạo (5 chiến dịch gồm: chiến dịch Tây Kết lần thứ nhất, chiến dịch Chương Dương, chiến dịch Hàm). Tư, chiến dịch Tây Kết lần thứ hai, chiến dịch giải phóng Thăng Long), Trần Nhật Duật vinh dự được phong làm tướng chỉ huy chiến dịch Hàm Tử. Lúc bấy giờ, ngoài lực lượng vốn có của ta, Trần Nhật Duật đã tập hợp được nhiều người Hoa lưu vong. Họ bị thất bại trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ nên phải chạy sang nước ta lánh nạn. Điều này khiến quân Mông Cổ hết sức bất ngờ và hoảng sợ, cho rằng đó là quân chung của nhà Tống với Đại Việt. Trần Nhật Duật ngăn giặc ở Hàm Tử (Hưng Yên). Lực lượng của quân Mông Cổ nhanh chóng bị chia cắt, bị tấn công và tiêu diệt bởi sự hợp tác chặt chẽ của nhiều chiến dịch khác nhau. Chiến thắng Hàm Tử do Trần Nhật Duật chỉ huy có ý nghĩa to lớn đối với thắng lợi chung của cuộc kháng chiến lần thứ hai; và cùng với các đạo quân khác đập tan hệ thống phòng thủ phía nam Thăng Long, mở đường tiến vào giải phóng kinh thành.

2

Trận đại chiến Hàm Tử Quan.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba (1288), danh tướng Trần Nhật Duật đã lập được nhiều chiến công xuất sắc, góp phần to lớn vào thắng lợi hoàn toàn của dân tộc ta.

Trần Nhật Duật là một nhà quân sự tài ba, ông biết khéo léo vận dụng binh pháp để thu phục lòng người. Ông là người kiên trì đường lối hữu nghị giữa các dân tộc, không phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số mà trước đây người ta thường coi thường là man rợ, man rợ; biết liên minh với các dân tộc bị áp bức với mục tiêu chống kẻ thù chung. Hơn nữa, ông còn là người giữ sự đoàn kết giữa các hoàng thân, quý tộc. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Trần Nhật Duật là người lễ độ, hào hiệp, vui giận không ra mặt. Trong nhà không có cây roi để đánh người nô lệ. Có khi đánh thì kể tội trước rồi mới đánh. Có lần, người nhà của ông bị Tuần phủ Quốc công (tức Trần Quốc Tuấn) đánh chết. Có người đến nói với tôi, Trần Nhật Duật hỏi anh đã chết chưa? Anh ta trả lời: vừa đánh vừa đau. Anh ta nói: nếu bạn không chết, vậy thì ích gì?

Năm Đinh Mão (1267), Trần Nhật Duật được phong Chiêu Văn Vương.

Năm Nhâm Dần (1302), tức là hai năm sau khi Trần Hưng Đạo mất, Trần Nhật Duật được phong làm Thái tử Quốc công (Quý tộc họ Trần cũng được ban hai tước hiệu khác nhau, tức là tước vị. Với hệ thống tước vị cao quý, Trần Nhật Duật được phong là Đại Vương, nhưng với hệ thống tước vị, ông chỉ được phong đến cấp cao nhất là Quốc Công).

Năm Giáp Tý (1324), ông được phong Tả thánh Thái sư.

Năm Kỷ Tỵ (1329), ông lại được phong là Chiêu Văn đại vương.

3

Chùa Đệ Tứ, phường Lộc Hạ (TP Nam Định) nơi thờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật.

Ông mất năm 1330 dưới triều Trần Hiến Tông, hưởng thọ 75 tuổi. Bình sinh, là người tài giỏi nhưng tính tình rất cẩn thận, nghiêm túc nhưng rất mực thước, liêm khiết và nhân hậu khó ai sánh kịp. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với thời kỳ huy hoàng nhất của nhà Trần. Tài năng, đức độ, sự nghiêm túc, chính trực của ông cũng như các danh tướng, văn võ song toàn cùng thế hệ với ông (Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải …) đã góp phần không nhỏ vào sự tồn tại và hưng thịnh. thịnh vượng của Đại Việt dưới thời Trần.

Phương Anh (tổng hợp)

Nguồn:

– Tiến sĩ Liu Meiji, “Trần Nhật Duật (1255-1330)”, Danh nhân hà nội, H.: NXB Hà Nội, 2004, tr. 193-197.

– Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, “Trần Nhật Duật“, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh: Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1372-1373.

Tổng hợp bởi VEZ