Hello quý khách. , chúng tôi sẽ đưa ra đánh giá khách quan về các tips, tricks hữu ích phải biết bằng bài chia sẽ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Sinh ngày 1-3-1906 tại miền quê Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đồng chí Phạm Văn Đồng sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc và tham gia hoạt động cách mạng từ những năm tuổi đôi mươi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng vô cùng phong phú, gắn liền với những trang sử vẻ vang của Đảng và dân tộc; là tấm gương mẫu mực về tinh thần yêu nước, suốt đời tận tụy phục vụ cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Thời niên thiếu, Phạm Văn Đồng đi học tại Huế; năm 1924, tốt nghiệp bậc thành chung tại Trường Quốc học Huế, rồi tiếp tục ra học tại Trường Bưởi (Trường PTTH Chu Văn An, Hà Nội hiện nay). Tại Trường Bưởi, Phạm Văn Đồng chưa học hết khóa học (2 năm) đã phải bỏ dở để ra nước ngoài. Năm 1926, Phạm Văn Đồng được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đưa sang Quảng Châu, Trung Quốc dự lớp huấn luyện chính trị. Tại đây, Phạm Văn Đồng được gặp Nguyễn Ái Quốc và được Người truyền bá lý luận Mác-Lênin, đồng thời được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Như vậy, Phạm Văn Đồng có may mắn được gặp Nguyễn Ái Quốc từ sớm.

Đừng Bỏ Lỡ
Cơ hội x100 lần tài khoản khi mua sớm MUFC Token 🎁 Giai đoạn Presale từ 3/11 – 2/12

1

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. (Ảnh tư liệu)

Đầu năm 1927, Phạm Văn Đồng từ Quảng Châu về Hà Nội, tiếp đó vào hoạt động tại Sài Gòn và được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam kỳ. Đầu tháng 5-1929, tại Hồng Kông, Phạm Văn Đồng tham dự Đại hội I, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau một thời gian hoạt động, củng cố các tổ chức cách mạng tại Trung kỳ, tháng 7-1929, Phạm Văn Đồng trở vào Nam hoạt động, nhưng khi vừa xuống ga Sài Gòn thì bị mật thám Pháp bắt; tiếp đó bị kết án 10 năm tù giam; tháng 7-1930 bị đưa ra giam giữ tại Côn Đảo. Đến tháng 6-1936, do kết quả đấu tranh của nhân dân ta và được sự ủng hộ của Mặt trận bình dân Pháp đòi thả tù chính trị ở Đông Dương, Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 9-1939, tại Hà Nội, đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật gặp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Hai người trao đổi về một số vấn đề của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Phạm Văn Đồng đề nghị Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bố trí cho ra nước ngoài để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được Tổng Bí thư đồng ý. Tháng 5-1940, Ban Chỉ huy ở nước ngoài bí mật bố trí cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp gặp Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh, Trung Quốc. Đây là lần thứ hai Phạm Văn Đồng được gặp người thầy cách mạng Nguyễn Ái Quốc, còn Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên. Cuối năm 1940, nhận chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc phải gấp rút đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng ở Việt Nam sắp bùng nổ; tại Tĩnh Tây, Trung Quốc, các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên cùng biên soạn chương trình huấn luyện cán bộ, biên soạn bài giảng và tổ chức lớp huấn luyện cán bộ. Sau đó, Phạm Văn Đồng bí mật về nước. Lúc này, Nguyễn Ái Quốc cũng đã về nước từ đầu năm 1941. Tại Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo xuất bản báo “Việt Nam độc lập”. Số báo đầu tiên ra ngày 1-8-1941; Phạm Văn Đồng được Nguyễn Ái Quốc ủy nhiệm phụ trách tờ báo.

2

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm TCCT Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc (ảnh tư liệu)

Ngày 15-8-1945, tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp, triển khai nghị quyết của Đảng về tổng khởi nghĩa và quyết định thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; Phạm Văn Đồng là thành viên của Ủy ban. Ngày 6-1-1946, tại cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phạm Văn Đồng trúng cử đại biểu Quốc hội với số phiếu cao và sau đó liên tục là đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987. Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL cử Phạm Văn Đồng làm Trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sang Pháp trong dịp này với tư cách là thượng khách của nước Pháp và lãnh đạo Đoàn đàm phán. Cuộc đàm phán kéo dài đến tháng 10-1946, nhưng không thành, do Chính phủ Pháp không chịu chấp nhận một nền hòa bình ở Việt Nam. Đồng chí Phạm Văn Đồng về nước tham gia kháng chiến, hoạt động tại Trung Bộ, rồi về công tác tại Trung ương. Năm 1947, Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; tháng 7-1949, được cử làm Phó thủ tướng Chính phủ. Tháng 9-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng.

Liên tục từ tháng 9-1955 đến năm 1987, đồng chí Phạm Văn Đồng là Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hơn 30 năm trên cương vị Thủ tướng, Ông đã ra sức củng cố chính quyền nhân dân. Theo Ông, muốn củng cố và phát triển chính quyền nhân dân, thì phải có hai yếu tố cấu thành, đó là luật pháp, chính sách và nền dân chủ. Ông rất chú trọng xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, Ông đặc biệt quan tâm đến ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học-kỹ thuật; cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng là kiến trúc sư của nhiều kế hoạch 5 năm. Quan điểm của Ông là xây dựng kế hoạch 5 năm, trước hết, phải gắn giữa nhiệm vụ xây dựng và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh; phải vận dụng đường lối chung và đường lối kinh tế của Đảng phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông luôn nhấn mạnh đến việc xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân đi đôi với thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trải qua nhiều cương vị công tác ở địa phương và Trung ương và luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Đồng chí là Thủ tướng Chính phủ và đảm nhiệm cương vị người đứng đầu Chính phủ trong 32 năm.

Với trọng trách đứng đầu cơ quan hành pháp, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ, đồng chí đặc biệt chú trọng đến bản chất dân chủ nhân dân của chính quyền. Đồng chí nêu rõ: “Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam là khối đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp yêu nước và dân chủ, được tổ chức thành bộ máy Nhà nước chống chủ nghĩa đế quốc và tay sai của chúng. Bộ máy ấy phải dựa trên khối liên minh tất cả những người lao động, chủ yếu dựa trên liên minh công nông và dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân”(1).Nhà nước đó phải thiết thực bảo vệ quyền lợi của nhân dân và phải được tổ chức dân chủ để các tầng lớp nhân dân tham gia vào chính quyền một cách trực tiếp, thường xuyên, có hiệu lực.
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước, đồng chí yêu cầu phải tránh lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh; phải đi sát với dân, nắm bắt tâm tư và nguyện vọng của dân để có chủ trương đúng và lãnh đạo đúng; phải thực hiện tự phê bình và phê bình. Đồng chí Phạm Văn Đồng cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, tiếp đó đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

3

BCH Trung ương Đảng họp bàn phương hướng kế hoạch nhà nước năm 1961 (đ/c Phạm Văn Đồng ngồi thứ nhất dãy bên trái Bác Hồ)

Là người có trí tuệ sắc sảo, vốn kiến thức uyên bác, với phong thái lịch thiệp, đồng chí Phạm Văn Đồng sớm được giao đảm nhiệm công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Tên tuổi Phạm Văn Đồng được bạn bè quốc tế biết đến từ khi được giao nhiệm vụ đón tiếp đoàn đại biểu quốc tế đến thăm Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (năm 1926). Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh nhà ngoại giao năng động và thân thiện Phạm Văn Đồng đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế, góp phần tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ thế giới, tăng thêm thế và lực của cách mạng Việt Nam.
Là một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng hết sức chú trọng đến văn hóa và phát huy vai trò của văn hóa trong hoạt động cách mạng. Quan niệm của đồng chí về văn hóa rất toàn diện và sâu sắc. Đồng chí nêu rõ văn hóa là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”, “văn hóa là quá trình con người và cộng đồng con người ở từng nơi và ở mọi nơi đoàn kết và phấn đấu qua biết bao gian khổ và hy sinh để từng bước, từng phần tự khẳng định mình, từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, dần dần trở thành con người tự do”(2).
Trong thời kỳ hoạt động cách mạng bí mật, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết nhiều bài báo giàu tính chiến đấu trên các tờ báo như Ý kiến chung, Người tù đỏ (trong nhà tù Côn Đảo), Le Travail (Lao động), Notre Voix (Tiếng nói chúng ta) nhằm tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, đấu tranh chống chế độ thực dân phản động. Trong cuộc vận động tiến tới Cách mạng tháng Tám, đồng chí được giao làm chủ bút, rồi phụ trách báo Việt Nam Độc lập do Hồ Chí Minh sáng lập. Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng là người rất quan tâm viết bài về thời đại Hùng Vương, về các danh nhân văn hóa của dân tộc, đồng thời quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, phương pháp học ngoại ngữ … Đối với lĩnh vực văn hóa văn nghệ, đồng chí lưu ý: “trong các phương thức để tiến hành giáo dục tư tưởng thì văn hóa, văn nghệ có tác dụng sâu sắc, thấm thía, lâu bền bậc nhất”(3). Theo đồng chí, một tác phẩm nghệ thuật phải có cả hai mặt nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật. Đồng chí yêu cầu văn nghệ sĩ phải chú ý thực hiện tốt bốn điểm: thứ nhất là phải học; thứ hai là vốn sống; thứ ba là hiểu biết chính trị; thứ tư là phải kiên nhẫn. Đồng chí Phạm Văn Đồng đặc biệt quan tâm đến ngành giáo dục. Với đồng chí, giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc. Đồng chí trăn trở khi thấy tình trạng dạy “sáo”, học “sáo”, tình trạng trường lớp xuống cấp ở một số địa phương… Lời dặn: “trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò” và quan điểm hết sức coi trọng vai trò của giáo dục được đồng chí nêu ra đến nay vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc.
Đối với đồng chí Phạm Văn Đồng, được gặp Hồ Chí Minh, được Người giáo dục là những “dịp may” giúp đồng chí rèn luyện, hình thành bản lĩnh chính trị. Từ khi còn đang học năm thứ tư Thành chung ở Trường Quốc học Huế, Phạm Văn Đồng đã biết đến Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh với sự ngưỡng mộ và cảm phục sâu sắc. Năm 1926, khi sang Quảng Châu dự huấn luyện lý luận chính trị, đồng chí trực tiếp được gặp Hồ Chí Minh và được Người giáo dục, rèn luyện cả về lý luận chính trị và tư cách, đạo đức cách mạng. Từ năm 1940 đến năm 1969, đồng chí Phạm Văn Đồng tiếp tục có “dịp may” là một trong số ít người thường xuyên sống và làm việc bên cạnh Hồ Chí Minh. Chính vì có nhiều thời gian được sống và làm việc gần bên Người, Phạm Văn Đồng là một trong những người sớm đi tiên phong trong việc viết về Người. Các tác phẩm: Hồ Chí Minh – Hình ảnh của dân tộc;Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp; Hồ Chí Minh – Q khứ, hiện tại và tương lai; Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh. Văn hóa và đổi mới; Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh …. là những công trình nghiên cứu sâu sắc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa Phạm Văn Đồng trở thành người góp phần quan trọng đặt nền móng cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
Học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng suốt đời tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng trong sáng. Cuộc đời cách mạng của đồng chí là tấm gương phấn đấu, hy sinh trọn đời vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Từ bỏ con đường có một cuộc sống cá nhân giàu sang, phú quý đang rộng mở, đồng chí lựa chọn con đường cách mạng đầy chông gai, nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Trong công tác và cuộc sống thường ngày, đồng chí là người luôn thể hiện nếp sống giản dị, khiêm tốn, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, gần gũi và gắn bó mật thiết với nhân dân.

4

Khu tưởng niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại quê hương Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi.

94 tuổi đời, 75 năm liên tục hoạt động cách mạng, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho Đảng, cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một nhà trí thức, nhà cách mạng tầm cỡ, rất yêu nước và cách mạng; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Đạo lý truyền thống của dân tộc là luôn luôn ghi nhớ công lao của những người con ưu tú đã phấn đấu trọn đời vì độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc.

Minh Vượng(tổng hợp)

Nguồn TLTK:
(1) Phạm Văn Đồng: Một số vấn đề về Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 20.
(2) Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 11.
(3) Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ. NXB Văn học, Hà Nội, 1993, tr. 45.

– Lời điếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đọc tại Lễ truy điệu và an táng đồng chí Phạm Văn Đồng, ngày 6-5-2000. Báo Nhân Dân, ngày 7-5-2000.
– Bài viết của PGS. TS Lê Quốc Lý- Phó Giám đốc Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

Bài viết củaPGS. TS Đàm Đức Vượng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.

Tổng hợp bởi VEZ