Chào bạn đọc. Bữa nay, chúng tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức bằng bài chia sẽ Bác sĩ Việt bỏ rượu … nhờ gái đẹp

Nguyễn Bá Dương (1740 – 1785) quê ở làng Nguyên Xá, tổng Cổ Cốc, huyện Thần Khê (nay là xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình). Từ nhỏ, Bá Dương đã nổi tiếng là thần đồng thông minh, hay chữ và học giỏi trong vùng. Tuy nhà nghèo nhưng không vì thế mà anh tự ti. Ngược lại, ông rất tự phụ với tài năng của mình nên tính tình bộc trực, yêu ghét thẳng thắn, không giấu giếm trong lòng, coi thường cuộc đời. Của mình là chuyện hết sức bình thường, không có gì phải xấu hổ. Vì vậy, không ai dám khinh thường.

Đừng Bỏ Lỡ

Cách Đào TRX Coin kiếm 5% mỗi ngày

tiensi1 kienthuc net vn

Nói về tài năng của Bá Dương, tương truyền rằng thuở còn đi học, ông đỗ đạt nhà Bình Trung Công, quê ở Diên Hưng, làm quan lớn trong triều, thuộc hàng “công”. , nên ông là con của Bình Trung Công. Nó rất to và đẹp, ngay cả bức tường làm cổng tam quan, bức tường được đắp nổi bằng sơn thủy sinh động và kỳ ảo. Người nhà quê chưa được đặt chân đến chốn quyền quý, Nguyễn Bá Dương dừng lại xem, vừa nhìn cây tùng trồng trên đá cạnh tường, Bình Trưng Công vừa bắt gặp và bật cười trước sự tò mò của cậu học trò. vì vậy Kiểm tra kỹ năng của bạn xem bạn có nên nói với Bá Dương để viết một bài văn về cây thông. Không quản ngại, cậu học trò Nguyễn Bá Dương cầm ngay bút viết:

Thạch Thượng Thanh phụ họa xiềng xích,

Phi Hoa Thỏa Hương Thủy Sinh,

Cậu bé Ding Ning từ giã hình phạt,

Lưu Thủy Tha tuổi trẻ làm việc lương một đống.

Bản dịch thơ:

Hàng trăm thước thông trên một tảng đá rắn,

Hoa chứa đầy nước và hương,

Ding Ning nói với chú Tiêu đừng cắt,

Đối với cột chuột trong tương lai.

Bài thơ không chỉ tả thực cây tùng trên đá theo yêu cầu của Bình Trưng Công mà cậu học trò Bá Dương còn tự so sánh mình với cây tùng vững chãi, thẳng tắp, là “rường cột” tương lai của quốc gia, sẽ phò tá vua. , giúp ích cho đất nước. Thấy cậu bé tuy là trai quê nhưng lại cao lớn, tài giỏi, Bình Trung Công chỉ biết khâm phục và đưa cho cậu 5 tệ. Sau đó, bài thơ có tựa đề Thạch, tức là Cây thông đá gắn liền với tên tuổi của ông.

Để tạo dựng tên tuổi cho mình, anh đã đi học ở Thăng Long. Nhà nghèo nên ngoài chiếc áo nâu sòng đã sờn, tài sản của Nguyễn Bá Dương chẳng có gì giá trị cùng với vài cuốn sách thánh hiền. Tiếc rằng ngay từ khi còn ở quê, không biết có phải học theo Đỗ Phủ để “song ca” hay không mà Nguyễn Bá Dương lại nghiện rượu. Khi ra kinh đô, thói quen đó không thể phá bỏ, Ba Dương thường uống rượu của bà bán rượu Mơ thuộc Hoàng Mai, Thăng Long. Uống rượu mãi rồi số nợ đã chín đồng. Năm lần bảy lượt bị người bán rượu đòi tiền rượu vì sợ mình “nổ” nhưng khổ nỗi Nguyễn Bá Dương không có một xu trong túi để trả. Chán nản, lại là con buôn nên chẳng nể nang ai, người phụ nữ bán rượu gào thét đòi dứt áo ra đi để trả nợ. May mắn thay, lúc đó có một cô gái cũng làm nghề bán rượu cùng quê với người phụ nữ kia, thấy người đàn ông tội nghiệp đòi dứt áo ra đi, động lòng thương nên khuyên can người đàn bà bán hàng. rượu cùng làng. Nhưng làm mãi không được, bèn moi ruột tượng ra, đếm chín đồng, đưa cho người đàn bà kia rồi quẳng gánh đi.

Nguyễn Bá Dương được một người lạ cứu trong giây lát để giảm bớt nhục nhã, tuy kiêu ngạo nhưng cũng rất xấu hổ, anh chạy theo cô gái để cảm ơn, đồng thời xin tên cô để sau này quay lại. Cô gái xua tay và đáp:

– Tôi thấy anh ta là sinh viên, vì nhậu nhẹt, xấu hổ với đàn bà nên đành chịu, không nỡ mong trả thù.

Nói xong, cô ta bước thẳng đi mà không thèm để lộ thân phận. Trong lòng cảm thấy tội lỗi, Nguyễn Bá Dương hỏi tung tích thì được biết cô gái là người họ Mộ, từ đó xấu hổ vì bản thân không nổi tiếng mà đã bỏ bê Nguyễn Bá Dương không còn là đệ tử của Lưu Linh nữa. ngày đêm ông dời lên thị xã Sơn Tây học ở nhà gia trưởng. chăm sóc đèn sách. Cũng vì nghèo không mua được giấy viết nên thỉnh thoảng Bá Dương cũng phải dùng ghế để viết tiểu luận.

Nhờ siêng năng tu hành, Bá Dương biết hết lời thánh hiền, thuộc lòng. Trong kỳ thi Hương Nguyễn Bá Dương nộp đơn và đỗ Hương tiên (tức Cử nhân). Tiếp đến khoa thi Hội Bính Tuất (1766) đời vua Lê Hiển Tông, Bá Dương lại đỗ Đệ tam giáp đồng. Thường thì khi đỗ đạt như vậy, người trúng tuyển phải nói là phục dân, võng du nhưng vì nghèo nên Nguyễn Bá Dương không bằng tân khoa, nhưng không vì thế mà ông buồn.

Khi đó, danh tiếng của anh đã được nhiều người dân thủ đô biết đến. Có một công chúa, con gái chúa Trịnh, khi nghe tin ông đỗ đạt, liền sai người mang kiệu đến đón, rồi dẫn theo một số thiếu nữ là con và cháu gái của mình ra trình diện. người cô ấy thích kết hôn. Lúc này Nguyễn Bá Dương vẫn nhớ đến cô gái họ Mộ đã giúp mình năm xưa nên thưa với quận chúa:

– Xin chủ tử thứ lỗi, kẻ đáng thương này chỉ muốn lấy một cô bán rượu, người họ Mộ! Chẳng dám giàu sang danh giá mà phụ thân ngày xưa.

Thành công mãi không được, quận chúa đành phải bằng lòng, cho người về đất Hoàng Mai rước bà bán rượu Mơ về làm vợ chính Bá Dương, một cháu gái của quận chúa được làm vợ thứ. . Kẻ sĩ và những người thấp kém trong kinh thành Thăng Long biết việc, ai cũng khen Nguyễn Bá Dương, nên cùng nhau hoan hô và nói rằng:

Thiếu “Kim Vân” lấy bằng tiến sĩ.

Mất “chín tiền” là … bà Nghè!

Sự phán xét của tình yêu không làm hại lương tâm

Có học vị Tiến sĩ, Nguyễn Bá Dương được giữ lại Kinh đô Thăng Long, bổ làm quan. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cảm kích tài văn chương của ông, phong làm Hàn lâm viện, Tế tửu Quốc tử giám. Tuyên cho rằng, dù là quan lớn nhưng Nguyễn Bá Dương không lợi dụng mà làm hỏng triển lãm của nhân dân nên rất được chúa Trịnh Sâm kính trọng và kính nể.

Lúc bấy giờ, chúa Trịnh Sâm say mê và sủng ái mỹ nhân của cung phi là Tuyên phi Đặng Thị Huệ, nên muốn gì được nấy, chúa đều chiều theo ý. Nếu có thể, phi tần Tuyền cho phép thân nhân, đại phu của mình làm chuyện dâm ô trong hoàng cung, vua chúa mà không sợ bị ai quở trách, chẳng hạn như để cho em trai là Đặng Mậu Lân, kẻ dâm loạn, hung bạo chém họ. tất cả cho đến chết. Triều thần không phạt, lại còn cãi nhau với Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, đến nỗi dân gian phải than rằng: “Trăm quan có mắt như mù. Để cho Huy Quận công sờ vào cung chính”. Các quan trong hoàng cung tuy biết việc làm ngỗ ngược của Thị Huệ, đều vây kín nhưng không ai dám hé răng nửa lời. Các bè phái của Tuyên Phi càng thêm độc đoán.

Lúc bấy giờ, Nguyễn Bá Dương được phân công giữ án ở Ái Châu, Thanh Hóa ngày nay. Thị trấn tên là Mo (theo Kiểm tra số dư công khai Vũ Phương Đề), người chuyên đi tố tụng, là cánh của Tuyên phi Đặng Thị Huệ, nên việc xử tội đã dùng tiền của đương sự để tham ô. Khi đến Ái Châu, chứng kiến ​​hành động ăn vạ trắng trợn của Mỗ, Bá Dương thẳng tay, ra lệnh trói, bảo trả lại số tiền đã hối lộ bấy lâu, nếu không sẽ đánh. nhân viên cho đến chết. Tên Mô sợ đến mức phải nộp số tiền tham ô là bốn trăm lượng vàng. Chứng cớ tội ác rõ ràng như ban ngày, ông ta ban cho tên quản ngục những mũi tên trong cung, rồi hạ lệnh mang vàng về kinh đô để chúa phán xét.

Về đến Thăng Long, Nguyễn Bá Dương thành thật thưa với chúa Trịnh Sâm. Khi Tờ Khai được đưa vào phủ chúa Trịnh, công việc của tên Mỗ cũng được đảm đương ngay với Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Tức giận vì Mộ bị Nguyễn Bá Dương làm nhục, cũng là gián tiếp động đến danh dự, uy danh của mình, Tuyên phi liền vào cung, lấy nước mắt của cung nữ và khóc lóc với Trịnh Sâm rằng họ Mộ bị oan. yêu, bắt nạt. Nhưng tiếc là bằng chứng quá rõ ràng làm sao chối tội được. Chúa Trịnh Sâm dù rất sủng ái cung phi nhưng vẫn phải lắc đầu chỉ vào bốn trăm lượng vàng trên mâm mà nói:

– Cô nhìn xem, số vàng anh ta ăn ở đây rồi thì không còn oan ức gì nữa mà đòi.

Nhìn mâm cơm vàng ruộm, Đặng Thị Huệ chỉ biết mặt đỏ như trái gấc chín vì xấu hổ, chẳng biết bào chữa cho thiên hạ. Tên Mơ hết người giúp đỡ nên phải chịu hình phạt theo pháp luật. Sau đó, dân chúng vui mừng khôn xiết vì Bố Dương đã trừng trị được tên quan tham nhũng. Còn nàng Tuyên phi, họ Đặng, trong lòng luôn nuôi một mối hận thù với chàng.

Tổng hợp bởi VEZ