Hello quý khách. Ngày hôm nay, tôi mạn phép đưa ra đánh giá chủ quan về kinh nghiệm, tin tức qua nội dung Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sĩ Nguyễn Như Trang

Nguyễn Như Trang sinh năm 1927 trong một gia đình gia giáo tại thôn Nam Nhạc, thôn Vĩnh Mỗ, xã Cao Xá, Lâm Thao, Phú Thọ. Thân sinh là nhà giáo lão thành Nguyễn Như Hoan, đoạt giải nhất Truyện ngụ ngôn của Hội Khai sáng Tiến Đức trước tháng 8 năm 1945. Ông là hậu duệ đời thứ 15 của Thám hoa, tướng quân Nguyễn Như Thục, ông tổ của trường. . Họ Nguyễn làng Nam Nhạc. Sớm được cha mẹ cho ăn học ở Trường Thăng Long ngay vào thời kỳ sôi nổi của Mặt trận Dân chủ Đông Dương, lòng yêu nước thương dân được bồi đắp từ những bài giảng của các thầy Đặng Thai Mai và Võ Nguyên. Giáp, Hoàng Minh Giám…

Đừng Bỏ Lỡ

Nhận miễn phí 3.000.000 SHIB. Cơ hội x100 lần tài khoản với SHIB

1

Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sĩ Nguyễn Như Trang (1927-1948)

Tháng 8 năm 1945, sau khi tham gia cướp chính quyền ở Mỹ Hào, Hưng Yên, nơi cha mẹ đang sinh sống, ông trở về Hà Nội và tham gia Vệ quốc đoàn. Có bản lĩnh vững vàng, học giỏi, văn thơ lại giỏi, mùa hè năm 1946, ông được tổ chức dạy kỹ thuật quân sự tại trường quân chính Vệ quốc đoàn, đào tạo cán bộ cấp trung đội. Đồng chí sớm trưởng thành trong cuộc chiến đấu quyết liệt bảo vệ nền dân chủ của nhân dân và được kết nạp vào Đảng năm 1946.

Tháng 11-1946, Thủ đô Hà Nội gấp rút chuẩn bị mọi mặt để chống thực dân Pháp xâm lược. Năm tiểu đoàn Vệ quốc đoàn đóng ở ba liên khu trong nội thành. Riêng trung đội do Anh chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ cho một số cán bộ của Khu XI đóng ở khu Lò Lớn. Anh Nguyễn Hoàng Sâm, tiểu đội trưởng của trung đội này, hiện ở Trich Sài, quận Tây Hồ, Hà Nội, kể lại: “Lúc đó, cán bộ mặt trận Khu XI gồm ông Trần Độ và một số người khác đến mượn nhà ở khu Lò Lớn, giáp Nhà máy xay Lương Yên. Chúng tôi canh giữ, bảo vệ cho anh em. Ngày 16/12/1946, Lễ Quyết tử được tổ chức rất thiêng liêng trong tâm trí những người lính của Đội Quyết tử, đêm 19/12/1946, ta đánh địch ở đê Stai Quài, rồi đến ngã ba Lò Đúc – Yết Xanh. bao đường cũng được người dân mang ra bờ kè nên khi chiến đấu bị dính hết đường trên cánh tay, đánh được mấy ngày thì trung đội sáp nhập với Tiểu đoàn 212 Vệ quốc quân. Tiểu đoàn có ba đại đội 14, 15, 16 do đồng chí Quang Tuấn làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Bùi Cúc làm tiểu đoàn phó, đồng chí Văn Tấn làm chính trị viên. Anh Trang trở thành Đại đội trưởng một Đại đội của Tiểu đoàn. Các trận đánh ác liệt diễn ra tại các vị trí Ô Cầu Dền, Phố Huế – Viện Paxteur, Ngã tư Lò Đúc – Hàm Long – Lê Văn Hưu – Phan Chu Trinh, Nhà máy Rượu Hà Nội, Cửa Đống Mác – Bến phà Cảng Đen. Anh đã cùng đồng đội tiêu diệt địch và xe cơ giới ở Mặt trận Liên khu II. Anh Lê Hùng Lâm, chiến sĩ Đại đội 16 kể về những ngày tháng chiến đấu ác liệt ở Liên khu II dưới sự chỉ huy của Anh – Đại đội trưởng Nguyễn Như Trang trong hồi ký “Từ Hà Nội đi Tây Tiến”: “Hàng rào Hòa Mã đã ngăn chặn rất hiệu quả đối phương từ phố Huế tiến vào. Xe tăng địch đến góc cua phải dừng lại. Tôi được chỉ định bắn vào giữa gò. Sau mỗi phát súng, bạn phải lao súng vào nhà để có thể tháo nòng. Ở Ô Cầu Dền, địch cũng bị phong tỏa khá lâu. Họ không thể vượt qua được chướng ngại vật, phải vòng qua khuôn viên Việt Nam xuống chợ Mơ rồi chống trả. Sau Tết, đại đội tôi đánh địch ở Nam Dư Thượng – Nam Dư Hạ. Biết đơn vị tôi đang bí mật chọn người đi Tây, tôi tìm gặp anh Như Trang xin đi. Chúng tôi đã bỏ lại Hà Nội phía sau. Tây Tiến! ”(đầu tiên). Anh Nguyễn Hoàng Sâm, lúc đó cũng ở Đại đội 16, giải thích rõ hơn:Chúng tôi được lệnh bí mật tập trung quân gần sân bay Bạch Mai, tập hợp lại lực lượng, tiến công vào thị xã Hà Đông. Tới đó, cầu qua sông Nhuệ không còn, chúng tôi phải xuống rặng tre bắc qua sông để vào thị trấn, đi theo đường số 6. Trận đánh một mất một còn ở mặt trận Hà Nội đã rèn luyện bản lĩnh kiên cường của người đại đội trưởng xuất sắc. Anh đã được kết nạp vào Đảng.

Các trận đánh ở Hòa Bình

Từ Nam Du lên Xuân Mai bổ sung quân, thành lập Tiểu đoàn 150 đánh địch ở Thượng Lào, giữ sườn Tây của ta. Cuối tháng 2 năm 1947, Tiểu đoàn 150 thuộc Trung đoàn 52 Tây Tiến gồm 4 tiểu đoàn (D 150, D157, D 160, D 164). Bộ đội hành quân theo hướng Lương Sơn – Chợ Bờ – Suối Rụt, Chiềng Sài rồi ngược sông Mã đánh chiếm Mường Lát năm 1947.

Trong gian khổ, cực khổ, bị thương vào cuối năm 1947, đang điều trị tại bệnh xá trung đoàn, ông đã chứng kiến ​​một cảnh tượng tang thương: nhiều chiến sĩ mắc bệnh sốt rét và chết ngay tại bệnh xá. Xúc động và xót xa vô cùng khi nghe mỗi nhịp cồng chiêng là một chiến sĩ bị sốt rét cướp đi sinh mạng, anh đã sáng tác thành bài hát. âm thanh cồng chiêng, nói trạng thái tâm trí của người lính: “Anh không đáng chết, nước non chưa nguôi / Mà bệnh rừng ác nghiệt đưa anh đi / Còn nước non chờ… Nơi quân y đã bao lần gồng mình kêu gào / Đến tận tai chiến binh dũng mãnh của quá khứ ”.

Ông còn viết nhiều bài báo, sáng tác nhiều ca khúc để cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt qua gian khổ, chiến đấu vì Tổ quốc. Những công việc nổi tiếng “Thị trấn biên giới” do ông phổ nhạc một bài thơ ông sáng tác năm 1946, ra đời trong những ngày ở mặt trận Hòa Bình. Mỗi khi hát, các chiến sĩ càng thêm tự tin: “Đoàn quân lên phố biên giới hào hùng / Một mùa xuân mới rúng động / Đưa chiến công trở về vẻ vang mà danh nhân đã ghi”

Tháng 5 năm 1948, thực dân Pháp tập hợp bọn đầu sỏ trong tỉnh về thị xã Hòa Bình để thành lập “Nước Mường tự trị”. Họ bổ nhiệm Đinh Công Quyền làm Tham mưu trưởng và đăng báo. ngôi sao trắng như một công cụ tuyên truyền. Thu – đông năm 1948, quân Pháp chiếm 2/3 đất đai ở Hòa Bình, kiểm soát toàn bộ quốc lộ 6, quốc lộ 12, quốc lộ 15; Từ đó, họ muốn biến Hòa Bình thành “bức tường thép bên sông Đà”, cắt đứt huyết mạch giao thông giữa Liên khu 3, Liên khu 4 với Việt Bắc, Tây Bắc; Vì vậy, đoàn quân Tây Tiến đã trải qua những ngày tháng chiến đấu vô cùng gian khổ, không sao kể xiết. Đồng chí Nguyễn Như Trang chỉ huy một đại đội của Tiểu đoàn 150 chiến đấu trên đường số 6, Hòa Bình, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, chặn đường hành quân của địch. Điển hình là trận Mè – Lẹ, Lương Sơn, ta đã tiêu diệt hàng chục tên. Tên đảng trưởng khét tiếng Phùng Đồng Đăng đã phải đền tội. Trận tiêu diệt cứ điểm Mai Châu, đồn Mai Hạ, Mường Lò, Anh chỉ huy quân tiêu diệt cơ quan ngôn luận của Mường tự trị bằng tờ báo. ngôi sao trắng Do Quách Đăng biên tập đã tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, làm chủ trận địa, lập nên những chiến công vang dội khắp vùng. Chỉ trong một thời gian ngắn, anh cũng đã chỉ huy một đại đội chiến đấu trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi Hòa Bình. Vì vậy, Anh được cấp trên bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 150, Trung đoàn 52 Tây Tiến.

Thu đông năm 1948, Trung đoàn 52 chủ trương các đại đội độc lập yểm trợ cho Tiểu đoàn 150 nhổ đồn Đầm và đồn Nghè – hai vị trí quan trọng của địch ở Ngọc Lặc, tây Thanh Hóa, từ đó lấy đà xây dựng. giải phóng một vùng rộng lớn Thanh Hóa-Hòa Bình. Một nhóm chuẩn bị cho trận địa do Trung đoàn trưởng An Giao, chính ủy Hùng Thanh chỉ huy. Tiểu đoàn 150 do Tiểu đoàn phó Như Trang và Đại đội trưởng 135 Nguyễn Huy Ngọc chỉ huy. Sau mấy ngày hành quân, ngày 19-11-1948, bộ phận trinh sát nắm tình hình địch đã đến bản Mu, tổng Ngọc Lâu, châu Lạc Sơn, nay là xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Do bị bọn Mường chỉ điểm, một phân đội trinh sát đã bị một đại đội địch, trong đó có một trung đội lính Âu-Phi chỉ điểm. Theo lời kể của anh Lê Hùng Lâm nhiều năm trước, người luôn theo sát anh như hình với bóng, hình ảnh anh hiển hách đến nỗi anh đã trút hơi thở cuối cùng: Trong điều kiện hoàn toàn bất lợi, địa hình trống trải, lực lượng chênh lệch (ta một, ta mười), quân Anh cho quân rút khỏi vòng vây địch để bảo toàn lực lượng; giải quyết chiến trường, Anh và một đại đội trưởng ở lại để kéo quân địch về phía mình. Khi đại đội trưởng hy sinh, anh vẫn một mình, anh tiếp tục chiến đấu trong vòng vây của địch, diệt hơn 10 tên địch và anh dũng hy sinh tại thôn Ngọc Lâu, Châu Lạc Sơn, Hòa Bình vào trưa 19/11/1948. Trung úy Pháp. đứng trước thi hài Anh thốt lên: Tôi xin cúi đầu khâm phục trước cái chết anh dũng của người sĩ quan trẻ. Và chính tấm gương anh hùng của nước Anh đã truyền cảm hứng cho Grand Wat – người lính Âu Phi chạy vào hàng ngũ Bộ đội Cụ Hồ.

Các liệt sĩ được nhân dân làng Mu chôn cất – “Chiếc áo thay anh về đất”. Một thời gian sau, đơn vị cử người đi tìm gia đình anh mất tích ở Thanh Ba, Phú Thọ, đau xót báo tin. Năm 1957, mẹ là bà Đặng Thị Lục và anh thứ bảy là Nguyễn Như Giao về làng Mụ. Trải qua bao khó khăn, vất vả, khi đạp xe, khi xuống thuyền men theo dòng sông mà đi, mới đến được bản Mu. Được sự giúp đỡ tận tình của người dân địa phương, đặc biệt là anh Bùi Mùn, con trai của cụ già đã chôn cất hai liệt sĩ, gia đình đã tìm được hài cốt của Nguyễn Như Tráng và Nguyễn Huy Ngọc ở hai ngôi mộ liền kề. cùng nhau. Mẹ anh nén đau buồn, xin địa phương đưa anh về nhà rồi đưa linh cữu anh về chùa Trấn Quốc làm lễ. Sau đó, lễ truy điệu và an táng anh Ánh được tổ chức trọng thể tại Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch. Anh nằm ở lô 8, khu L1, nơi quy tập hàng trăm liệt sĩ của Thủ đô Hà Nội đã hy sinh vì hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tượng đài bất tử

Chiến công xuất sắc của ông trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã được Đảng, Nhà nước ghi công, truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 21 Tháng Mười 2014. Dòng họ Nguyễn Nhữ ở Cao Xá (Phú Thọ) thành kính về ông và tổ chức Lễ thành kính dòng họ Nguyễn làng Nam Nhạc vào một ngày kiết tường, 26 tháng 9 âm lịch (tức ngày 7 tháng 11 âm lịch). , 2015). . Năm 2016, tại Hà Nội, họa sĩ, nhà điêu khắc Hoàng Sỹ Long đã cho ra đời tác phẩm về Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Như Trang. Tháng 4/2017, bức tượng bán thân bằng đồng của Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Như Trang được hoàn thành. Ngày 30 tháng 4 năm 2017, Đảng ủy – UBND, HĐND xã Tự Do, huyện Lạc Sơn về Hà Nội làm lễ rước tượng đồng nguyên khối cao 50 cm từ chùa Trấn Quốc về xã. . Đó cũng là tình cảm của gia đình đối với địa phương, nơi anh ngã xuống và nằm trong tình cảm của bà con.

Đặc biệt, nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 -27/7/2017), gia đình còn tặng bức tượng đồng thứ hai cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Hình ảnh người lính Tây Tiến sống mãi trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, trong lòng dân tộc Việt Nam ngàn đời. “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về”. Và hôm nay, hình ảnh bi tráng ấy hiện lên thật cụ thể, sinh động và đầy cảm phục qua một tấm gương tiêu biểu: Anh hùng LLVTND. Nguyễn Như Trang.

Ths. Phạm Kim Thanh

(đầu tiên): Tây Tiến 50 năm nhìn lại, Ban liên lạc truyền thống Hội CCB Tây Tiến- E52, 1997, tr 83.

Tổng hợp bởi VEZ